Hiển thị các bài đăng có nhãn NGHIÊN CỨU. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn NGHIÊN CỨU. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 10 tháng 4, 2021

NGHỀ GỐM HIỂN LỄ*

 



Những làng gốm cổ truyền của ta còn tồn tại lại và hoạt động được cho tới nay không nhiều lắm. Làng gốm Hiển Lễ là một trong số những làng hiếm hoi đó. Nằm tiếp giáp giữa vùng đồng bằng và trung du xưa nay sản phẩm của làng gốm này đã góp phần không nhỏ phục vụ đời sống sinh hoạt của nhân dân lao động một vùng rộng lớn. Với biến thiên của lịch sử, sự thay đổi của các điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội và nhu cầu tiêu dùng hiện đại, làng gốm này vẫn tồn tại đã khẳng định vị trí quan trọng của nghề gốm ở đây. Các mối quan hệ giữa nông nghiệp và thủ công nghiệp, giữa tổ chức làng xã và tổ chức phường hội, giữa tổ chức sản xuất và trao đổi sản phẩm, truyền thống tập quán và kỹ thuật sản xuất đồ gốm, những luật lệ để bảo vệ bí mật của nghề nghiệp đã được hình thành và tồn tại như thế nào đó là những vấn đề mà chúng tôi sẽ đề cập đến trong bài viết này. Ngoài ra, đây là một làng gốm tương đối điển hình, có thể cung cấp nhiều tư liệu hấp dẫn cho việc tìm hiểu một làng gốm cổ truyền nói riêng và nghề gốm cổ truyền ở nước ta nói chung.

Thời cuối Lê đầu Nguyễn, làng Hiển Lễ (tên nôm là Kẻ Dẫy) thuộc tổng Hiển Lễ, huyện Bình Tuyền, Phủ Phú Bình, xứ Thái Nguyên[1], nay thuộc xã Cao Minh, huyện Mê Linh, Hà Nội. Làng xưa kia nằm trên một gò lớn, hay đúng hơn là một dải đồi thấp với đất la-tê-rít hóa yếu. Lớp đất mặt trong làng dày 25-30 cm màu đỏ nhạt pha cát nhỏ, dưới đó là lớp đất màu đỏ son lẫn sạn đầu ruồi đang trong quá trình la-tê-rít hóa. Hiện nay, làng vẫn ở trên phạm vi của làng cổ, ngoài ra có một số hộ, từ vài chục năm nay đã ra ở trên một đồi thấp khác đối diện với làng cũ ở hướng đông. Bốn hướng của làng cổ đều có bốn cổng đông, tây, nam, bắc. Cổng đông và cổng nam nằm kề sát với một nhánh của sông Cà Lồ (nay đoạn sông này không còn nữa), có những dải đầm trũng nối nhau liên tiếp, một đầu ăn thông với sông Cà Lồ thuộc địa phận thôn Khả Do (xã Nam Viên) và một đầu thông với một suối lớn bắt nguồn từ dãy núi Tam Đảo. Hai cổng này chiếm vị trí quan trọng trong việc buôn bán, trao đổi sản phẩm bằng đường thủy với các phường buôn ở miền xuôi và miền ngược. Cổng phía tây thông với các dải đầm chiêm trũng, chủ yếu là nơi tiêu thụ sản phẩm bằng đường bộ với các làng sản xuất nông nghiệp. Cổng phía bắc chủ yếu là đường vận chuyển nhiên liệu nung gốm lấy từ vùng đồi và núi Tam Đảo.

Bao quanh làng, phía đông bắc là dải đồng mùa với diện tích khoảng 22 mẫu. Đây là chân đồng cao, đất pha cát, lớp đất canh tác dày 30-35cm, phía dưới là đất đồi màu đỏ son, bẩn sạn đầu ruồi, đất bạc màu, độ chua cao (từ 4,5-4,7 độ PH). Bình độ của dải đồng này không bằng phẳng, loại hình ruộng canh tác là ruộng bậc thang, mùa khô rất khan nước, mùa mưa hay bị sói mòn. Trước Cách mạng tháng Tám (1945), dải đồng này chỉ cấy được một vụ lúa mùa hoặc trồng khoai lang, năng suất lúa rất thấp chỉ đạt 1,8 tấn/ha. Hiện nay do những biến đổi căn bản trong việc cải tạo đồng ruộng nên đã cấy hai vụ lúa, sản lượng đạt 5,4 tấn/ha cả năm. Phía tây nam là dải đồng chiêm trũng có diện tích 105 mẫu chỉ cấy lúa vào vụ chiêm, song rất bấp bênh do mưa lũ thường tràn ngập. Do những điều kiện tự nhiên thiếu thuận lợi nên cơ cấu cây trồng ở Hiển Lễ khá nghèo nàn. Cây lương thực và hoa màu gồm có lúa, lạc và khoai lang, cây ăn quả có dứa, mít, chuối song không nhiều lắm bởi lẽ kinh tế vườn không phát triển.

Điều kiện tự nhiên ở Hiển Lễ tuy không dễ dàng cho việc sản xuất nông nghiệp song lại khá thuận lợi cho việc sản xuất đồ gốm vì địa dư như nói ở phía trên phần nào đã thỏa mãn nhu cầu xây đắp các lò gốm. Các lò gốm được làm dốc thoai thoải ở các mặt sườn đồi, lợi dụng độ dốc địa hình tự nhiên để thoát khỏi và tạo cho đường lửa và không khí lưu thông dễ dàng, tiết kiệm được công đắp lò, thuận lợi cho việc chuyển nguyên liệu và tiêu thụ sản phẩm. Đất làm gốm ở đây có độ dẻo và độ chịu nhiệt cao.

1.    Lịch sử lập làng và nguồn gốc nghề gốm

Làng Hiển Lễ được lập từ bao giờ và nghề gốm có từ khi nào? Trả lời câu hỏi này phải dựa vào những di tích vật chất, truyền thuyết và ngọc phả ở làng.

Năm 1978, ngay ở địa điểm giáp ranh giữa làng Hiển Lễ và làng Xuân Hòa (cũng thuộc xã Cao Minh), người ta đã phát hiện được một số hiện vật thuộc văn hóa Đông Sơn muộn (khoảng thế kỷ 2-3 sau công nguyên)[2], chứng minh sự có mặt con người ở vùng này. Cuốn ngọc phả hiện lưu giữ trong đình cho biết: vào thời Hùng Vương, ông tổ của làng gốm này là Vũ Lục quê ở làng Sảo Sơn (Thạch Thành, Thanh Hóa) đã đến đây lập làng và dạy nghề[3]. Cuốn ngọc phả bắt đầu viết từ thời Lê, niên hiệu Hồng Phúc nguyên niên (năm 1572) cũng đã ghi chép về nghề gốm ở đây. Một loạt các di tích và di vật khác như tấm bia thời Mạc Đăng Doanh ghi niên hiệu Quảng Hòa thứ ba (năm 1543), đình làng với các mảng trang trí điêu khắc gỗ chạm mấy hình mác, hình người đấu võ đã cho biết niên đại dựng đình khoảng cuối thế kỷ 17 đầu thế kỷ 18. Các dấu vết vật chất liên quan đến nghề gốm có thể cho rằng chúng thuộc thời Lê. Trong đình hiện cũng còn một số sắc phong niên hiệu Cảnh Trị nguyên niên (năm 1663) phong cho ông tổ nghề gốm Vũ Lục (Thuần túy, thuần vũ thời Đạp Đại Vương).

Như vậy, bằng chứng khảo cổ học cho biết, con người đã đến định cư ở đây tương đối sớm, vào thế kỷ 2-3 sau công nguyên. Còn những chứng cứ sớm nhất liên quan đến nghề gốm thể hiện rõ vào thời Lê-Mạc.

2.    Nghề làm gốm cố truyền

Trước đây, làng gốm Hiển Lễ chuyên sản xuất các loại sản phẩm đất nung dùng trong sinh hoạt gia đình như nồi (dùng đựng nước và đun nấu; chõ, bát, vùa; lọ (đựng hạt giống); chum, chậu, hải đựng tương… Vào thời gian trước đây khi mà đồ nhôm chưa thông dụng, đồ đồng chỉ được dùng trong các nhà giàu thì những chiếc đồ gốm trở thành đồ đun nấu phổ biến và thiết yếu. Cho đến nay, những chiếc nồi đình vẫn được sử dụng rộng rãi để đựng nước. Do sinh sống bằng nông nghiệp có nhiều khó khăn kết hợp với nhu cầu tiêu thụ sản phẩm của xã hội, đã khiến cho nghề gốm ở đây có điều kiện phát triển mạnh trong suốt thời Lê-Nguyễn đồng thời cũng hình thành nên một nghề gốm có kỹ thuật cao với những nét độc đáo, riêng biệt.

2.1. Kỹ thuật đắp lò

Lò gốm truyền thống ở Hiển Lễ có dạng hình ống hẹp dần về phía cửa đuôi lò. Lò đắp bằng đất trên các gò cao, có độ dốc lớn. Nếu là làm ở trong vườn nhà, người ta gánh đất đổ thành đống rồi san cho có độ dốc. Lò ở đây có những chiếc khá lớn, dài gần 9m, có lán che kín đầu đuôi. Lán nối dài thêm ở phía cửa lò để chứa cỏ khô và che mưa, nắng cho người ngồi đun gốm. Ở trước cửa một số lò còn có một hố đào hình chữ nhật làm chỗ ngồi cho người đun. Tường hậu của đuôi lò khi nung bịt kín bằng đất nhão và gạch vỡ, hoặc dùng những chiếc nồi đã nung chín nhưng bị hỏng xếp chồng lên nhau. Mỗi lò có bốn ống khói trổ sát chân vách hậu. Đây là loại lò kết hợp giữa lò cóc và lò rồng, ưu điểm của nó là chứa được nhiều gốm mộc và đưa được luồng lửa đi xa. Quan sát những lò gốm đang nung, chúng tôi thấy lửa cháy đượm, khói thoát hết về phía sau. Các lò gốm ở làng Hoa, một làng gốm cũng chuyên nung đồ gốm đất nung - có cấu trúc tương tự xong kỹ thuật xử lý luồng lửa và lỗ thoát khói có khác, nhiệt độ trong lò kém hơn[4]. Lò gốm Hương Canh thuần nhất là loại lò cóc cải tiến, các lỗ thoát khói  đều gián tiếp dẫn lên các ống khói trên nóc lò[5]. Rõ ràng là 3 làng gốm đất nung: Hiển Lễ, làng Hoa (xã Khai Quang, Tam Đảo, Vĩnh Phú), Hương Canh, có những tập quán và kỹ thuật đắp lò hoàn toàn khác nhau. Sự hình thành những tập quán sản xuất khác nhau ở ba làng gốm đất nung ven sông Cà Lồ, một mặt ghi nhận vị trí của mỗi làng gốm, mặt khác cũng xác nhận những truyền thống và tập quán sản xuất riêng của chúng. So sánh nghề gốm Hiển Lễ với nghề gốm Làng Hoa, nghề gốm Hương Canh, chúng tôi muốn đi đến một kết luận là: nghề gốm Hiển Lễ khá ổn định, có những nét riêng trong tập quán sản xuất của mình.

2.2. Kỹ thuật làm đất

Cũng giống Hương Canh và Làng Hoa, gốm ở Hiển Lễ làm từ đất lấy ở các đầm trũng. Thành phần đất ở đây nhiều tạp chất, hàm lượng Ôxít sắt Fe2O3. Ôxít si-lích SiO2 và mica cao nên đất có màu xám[6]. Song tùy thuộc vào yêu cầu của sản phẩm mà người ta có kỹ thuật xử lý đất khác nhau. Ở Hương Canh, để tạo ra những đồ sành có độ nung cao, người ta thường lấy đất đầm trũng lên rồi trộn thêm đất sét xanh có độ chịu nhiệt cao. Ở Làng Hoa, do đất đầm vạc quá dẻo, quá nhu cầu của gốm đất nung nên người ta phải pha thêm ít cát để chống dính, còn đất ở Hiển Lễ độ dẻo vừa đủ nên người ta chỉ cầ khai thác lên đưa vào sử dụng luôn.

Đất lấy trong các đầm trũng, dưới độ sâu 30-35cm, được chuyển về gần lò, nhào cho nhuyễn, rồi dùng kéo sắt mỏng độ 3-4 lượt, sau đó dùng sức người đạp đi đạp lại nhiều lần. Kỹ thuật này nhằm tăng độ liên kết của đất, mỗi mẻ đạp chỉ rộng bằng chiếc nia (nếu đất lấy về chưa làm ngay thì đem ngâm gọi là ỏm). Khi đất đã mịn, đạt độ dẻo cần thiết thì đem vào chuốt.

2.3. Kỹ thuật tạo dáng

Kỹ thuật này gồm có các khâu: chuốt, sửa và cạo đáy.

-  Kỹ thuật chuốt: Là kỹ thuật căn bản nhất của tạo dáng. Dụng cụ dùng chuốt bao gồm: bàn xoay gỗ, một đoạn dây gai dùng cắt đồ gốm nhỏ, một đoạn cật tre cong (gọi là vang) dùng cắt đồ gốm lớn, một nồi nước và một mảnh giẻ thấm nước để chuốt. Phương pháp tạo dáng là phương pháp dải cuộn. Bàn xoay gốm là một mâm gỗ tròn, đường kính 53-54 cm gắn với một trục cố định chon trong hố đất có đường kính 72 cm. Trước hết, người ta lấy một thỏi đất (gọi là “khoong”), cách lấy đất hoàn toàn áng chừng, song khá chính xác. Mỗi “khoong” to hay nhỏ tùy thuộc vào loại sản phẩm định chuốt. “Khoong” được vuốt và vê thành thỏi dài, đưa lên bàn xoay cuốn thành hình sâu kèn. Người thợ chuốt hai tay dùng giẻ (gọi là “dăm chuốt”) thấm nước trong nồi, chân trái đạp bàn xoay và bắt đầu chuốt từ miệng xuống. Miệng đồ gốm được tạo dáng trước, sau đó đến thân và đáy. Lúc này đồ gốm có dạng hình vại.

-  Kỹ thuật sửa:

Sau khi đã tạo được dáng cơ bản cho đồ gốm, người ta dùng vòng cật tre mắc vào bàn tay phải nạo xung quanh thành đồ gốm tạo đường cong, kết hợp với việc ấn các ngón tay để tạo độ phình rộng cho đồ gốm. Sau đó người ta dùng dây gai cắt đồ gốm (đối với loại đồ gốm nhỏ) rồi dùng hai tay nhấc ra khỏi bàn xoay, hoặc dùng “văng” bê đồ gốm ra (nếu là đồ gốm lớn). Trên đồ gốm có nhiều vết cạo do vòng tre để lại. Đồ gốm được mang phơi hơi xe, sau đó người ta dùng ngón tay miết nhẵn xóa các vết cạo.

-  Kỹ thuật cạo:

Do đáy đồ gốm còn các thành sắc cạnh nên sau khi đã phơi se hơn nữa, người thợ gốm dùng vòng sắc tròn, có cạnh sắc để cạo đáy tạo cho đáy đồ gốm tròn đều. Có thể phân biệt kỹ thuật này ở làng Hoa và Hiển Lễ. Đáy gốm làng Hoa hơi vát dần xuống đáy, vết cạo sâu nên để lại các đường cạo ở phần đáy. Đáy gốm ở Hiển Lễ tròn đều, vệt cạo nhẹ tay chỉ để lại những vết cạo mờ nhạt cho nên dáng gốm Hiển Lễ nhìn đẹp hơn.

2.4.    Kỹ thuật nung

Gốm được phơi kỹ sau đó đem vào lò nung. Cách thức vào lò ở mỗi nơi một khác. Ở làng Hoa người ta vào lò từ cửa, gốm xếp từ đuôi lò giật lùi ra đến cửa lò. Còn ở Hiển Lễ người ta xếp từ giữa lò trước rồi lùi dần ra cửa lò và đuôi lò. Như vậy gốm được vào lò ở cả cửa lò và đuôi lò.

Ở Hiển Lễ, nhiên liệu nung gốm là cành lá nhỏ của các loại cây guộc, sim, mua, thông (địa phương gọi chung là chẩm). Ở Hương Canh trước đây nung bằng củi, còn ở làng Hoa, người ta đun bằng cỏ rác, tre, nứa. Mỗi một mẻ nung, nếu lò to ở Hiển Lễ đốt hết 1,5 tấn nhiên liệu, lò con hết 1 tấn. Dụng cụ đun khá đơn giản, đó là một đoạn chạc cây hình chữ Y hoặc một cái chĩa sắt hai răng dùng đẩy nhiên liệu vào lò. Mỗi lò gốm nung đều qua ba giai đoạn:

- Giai đoạn “bỏ lửa”: Giai đoạn này kéo dài khoảng 6 giờ, có tác dụng làm cho gốm nung trong lò nóng dần, chống nứt. Lúc này người ta ngồi đun.

- Giai đoạn “lên ngầu”: đun 6 giờ, gốm bắt đầu có màu hồng sáng. Người thợ lò đứng đun.

- Giai đoạn “đại hỏa”: đun to lửa khoảng 4 giờ liên tục, gốm có màu sáng trắng.

Sau ba giai đoạn này, người ta bịt cửa lò lại để “om” độ hai ngày chờ gốm nguội mới ra lò.

2.5.   Trao đổi và tiêu thụ sản phẩm

Gốm Hiển Lễ thường có màu xám đen, cứng và đanh hoặc có màu hồng thẫm. Sản phẩm của nó được nhiều nơi ưa chuộng và có thị trường tiêu thụ rất rộng. Xưa nay gốm Hiển Lễ được đưa xuống vùng xuôi đến các tỉnh Hà Nam Ninh, Hà Sơn Bình, Thanh Hóa, Bắc Ninh (Hà Bắc) và các huyện ở ngoại thành Hà Nội; được đưa lên miền ngược đến các tỉnh: Thái Nguyên, Hà Tuyên, Vĩnh Phú. Trước kia có rất nhiều phường buôn ở các tỉnh đến tận nơi đặt mua hàng như các phường buôn lớn ở Thanh Hóa, Đồng Kỵ (Hà Bắc), Thạch Đà, Yên Bái (Hà Nội). Phường buôn Thạch Đà có chừng 50 người, các phường nhỏ 4-5 người. Phường buôn Thanh Hóa có 10 người. Những phường buôn ở xã như Thanh Hóa, Vân Đình dùng thuyền đến chở, mỗi chiếc thuyền chở hết 5-6 lò. Các phường buôn nhỏ chủ yếu vận chuyển bằng đường bộ với hình thức “gánh vã”. Gốm được các phường buôn mua và trả bằng tiền. Đôi khi đến làng gốm cũng gánh hàng đến các vùng lân cận để đổi lấy thóc, ngô, khoai, sắn.

Phường buôn hầu hết là anh em họ hàng, ngày giỗ tổ họ mang đồ cúng tế và đồ lễ đến dự lễ hội với dân làng gốm. Các chức sắc trong làng căn cứ vào số khách mà bổ cho mỗi hộ làm một mâm cơm đãi khách. Sau những ngày lễ, phường buôn nào mua hàng của chủ lò nào thì chủ lò ấy phải tiếp và thu xếp chỗ ăn ngủ cho khách.

3.    Tổ chức phường hội, những kiêng kỵ và điều cấm

Do chỗ hoàn chỉnh một sản phẩm gốm phải qua nhiều khâu, phải đầu tư nhiều công của, do khả năng đầu tư có hạn của dân làng gốm nên xuất hiện một hình thức tổ chức sản xuất gọi là phường lò (địa phương gọi là “phường lồ”). Đây chỉ là hình thức hợp lực đoàn kết sản xuất. Hầu hết các làng gốm cổ truyền ở nước ta đều có hình thức tổ chức phường lò. Ở Làng Hoa và Hiển Lễ mỗi lò là một phường. Phường lò chỉ giới hạn trong nội bộ làng, hẹp hơn nữa nó chỉ bao gồm các thành viên trong họ hàng, láng giềng thân cận. Ở làng Hoa mỗi phường gốm 7 đến 8 gia đình; ở Hiển Lễ ít hơn thường gồm từ 4 đến 6 gia đình. Chưa thấy có hình thức liên kết các phường lò ở các làng với nhau, bởi lẽ mỗi làng đều có bí mật nghề nghiệp riêng. Chi phí cho việc đắp lò rất lớn cho nên ở Hiển Lễ có 200 hộ mà hiện chỉ có 15 lò gốm.

Công việc trước hết của phường lò là hợp lực đắp lò, dựng lán che. Gốm mộc thì phân công nhau làm mỗi hộ một loại sản phẩm rồi tính ra công để quy số lượng sản phẩm. Ví dụ: một công là 30 nồi to hoặc 60 nồi nhỏ. Như vậy hộ làm nồi to phải góp 30 chiếc, nồi nhỏ góp 60 chiếc. Trùm phường do tự bầu ra, thường là chọn người có kinh nghiệm nung tốt. Mỗi lò nung hết 60 gánh cành lá dầy (to và nặng). Số nhiên liệu này phân bổ theo số hộ. Khâu vào và ra lò cả phường làm chung. Sản phẩm chia làm 8 suất, nếu có 4 hộ sẽ dư ra 4 suất, người ta lại chia lần thứ hai. Sở dĩ phải chia làm 8 bởi vì thông thường có những gia đình góp 2 suất, 3 suất nên chia theo số 8 là tiện nhất. Ở làng Hoa người ta cũng phân chia theo số 8. Sản phẩm nung xong không chia hết mà mỗi mẻ giữ lại “10 kép” mỗi “kép” có 30 chiếc nồi gốm ba loại: 10 chiếc loại to, 10 chiếc loại nhỡ và 10 chiếc loại nhỏ, số này dùng vào việc chi phí sửa chữa lò, nếu còn lại thì cuối năm đem bán để liên hoan vào 26 tháng Chạp Âm lịch (gọi là “ngày chạp”) hoặc để tiếp các phường buôn.

Phường lò có thể cho thuê lò đối với các gia đình chỉ đủ khả năng làm ra gốm mộc. Những gia đình này rủ nhau chung đủ số gốm và nhiên liệu cho một lò, khi nung xong phải nộp cho phường lò 10 “ép”.

Hình thức phường hội đơn giản này chủ yếu tập hợp theo quan hệ thân thuộc, có tác dụng tích cực đối với sản xuất. Song nó không mang tính độc lập sản xuất để thúc đẩy kinh tế hàng hóa bởi vì trước Cách mạng tháng Tám bản thân cá thể mỗi hộ làm gốm bị bọn địa chủ lũng đoạn và bóc lột. Bọn địa chủ và các chức dịch trong làng chiếm hết ruộng đất của nông dân nên để sản xuất gốm những người dân trong làng phải vay nợ để mua đất. Số lượng sản phẩm thu được phần lớn phải trả nợ, phần còn lại (tuy là rất ít) đã bị địa chủ kiêm chủ thầu mua hết. Đất mau để làm nồi lấy ở các đầm trũng phải vận chuyển qua địa phận của bọn địa chủ nên bọn này bắt các phường lò hoặc thợ gốm cá thể phải thuê đường đi trong những tháng lấy đất.

Mỗi thợ gốm và mỗi phường lò còn bị ràng buộc bởi rất nhiều luật lệ và tập tục cũ có tính chất xã hội khác nhằm làm bần cùng hóa tầng lớp dân nghèo và nông dân tự do. Hiển Lễ có 4 giáp theo 4 dòng họ: Đinh, Dương, Nguyễn, Vũ. Mỗi dòng họ ngoài lệ làng chung còn có những hương ước khá nặng nề. Ví dụ: hương ước của dòng họ Nguyễn Duy quy định bố hoặc mẹ chết phải nộp làng 60 kg gạo, 60 kg thịt lợn, đàn ông trong dòng họ tính từ ẵm ngửa đến cụ già, mỗi người 2 bánh dầy, nếu là chức sắc trong làng mỗi người 8 bánh dầy và 2 miếng giò. Chức sắc cứ 4 người một mâm cỗ, ngoài ra phải có cỗ để làm thủ tục như: xin đất chôn, cho người viết câu đối, đóng quan tài… Nhiều người đã phải gán nhà cửa, ruộng vườn để lo việc tang ma cho cha mẹ. Giỗ tổ hàng năm cũng bổ theo số hộ để đóng góp. Để bảo vệ quyền lợi chung cho cộng đồng, lệ làng quy định ngặt nghèo việc giữ bí mật nghề gốm. Tất cả dân ngụ cư đều không được học nghề. Song có trường hợp ngoại lệ, người đó được nhà có thế lực trong làng nhận làm con nuôi. Nếu ai truyền nghề ra ngoài sẽ bị: “Cắt ngôi trừ ngoại” nghĩa là bị làng xóm cô lập. Dòng họ nào có người vi phạm thì dòng họ ấy bị vạ lây, bị dân làng coi rẻ. Truyền thuyết ở làng lưu hành một câu chuyện mang tính chất răn đe như sau: Một người họ Vũ, vì đến làng Hoa tryền nghề bị làng đến bắt về và bị “cắt ngôi trừ ngoại” mặc dù, chính dòng họ Vũ đã đem nghề gốm đến Hiển Lễ, cuối cùng lại bị chèn ép, khinh rẻ bởi có một người tiết lộ bí mật nghề gốm.

Trước đây việc chuốt nồi là do phụ nữ đảm nhiệm, đàn ông có nhiệm vụ ra vào lò và đun. Hai khâu này cần có sự am hiểu về kỹ thuật nung, do đó không bao giờ truyền cho con rể và con gái. Khi vào lò, họ cấm người lạ nhòm ngó sợ bị đánh cắp bí mật nghề nghiệp. Người ta cũng cấm đàn bà bén mảng đến vì sợ làm ô uế (?) lò. Thợ đun gốm phải sạch sẽ, không được ngủ với vợ và phải cúng tế, khấn tổ. Đám ma đi qua cửa đình (nơi thờ tổ nghề gốm) cấm thổi kèn hoặc đánh trống sợ làm kinh động, đức tổ sẽ quở phạt làm gốm nung bị sống, bị hỏng…

4.        Những đổi mới trong sản xuất nông nghiệp và sản xuất đồ gốm ở Hiển Lễ

Như đã trình bày ở trên, cơ cấu kinh tế ở làng gốm Hiển Lễ là sản xuất nông nghiệp và làm gốm. Song điều đó hoàn toàn mâu thuẫn với tình trạng nông dân không có đất để làm ruộng và làm gốm vì địa chủ trong và ngoài làng đã chiếm hết ruộng đất (Hiển Lễ có 332 mẫu ruộng, bình quân đầu người là 0,2004 mẫu. Trước Cách mạng tháng Tám chỉ có 9 hộ có ruộng với diện tích 20 mẫu). Do vậy, sức sản xuất bị kìm hãm, nông nghiệp không phát triển, nghề gốm tồn tại chỉ để kiếm sống song lại là nghề chính của những người dân Hiển Lễ. Từ năm 1954 đến nay, ruộng đất về tay người lao động, vị trí của sản xuất nông nghiệp được đẩy lên hàng đầu. Cơ cấu cây trồng được bổ sung thêm ngô và lạc. Hệ thống thủy nông được xây dựng đã ngăn được lũ từ Tam Đảo dồn về vào mùa mưa đồng thời đủ nước tưới cho cánh đồng mùa và tiêu nước cho cánh đồng chiêm, mỗi năm có thể cấy được hai vụ lúa và một vụ màu, năng suất lúa được nâng lên. Nếu trước Cách mạng tháng Tám năng suất lúa là 1,8 tấn/ha đến nay đạt 5,4 tấn/ha cả năm. Nghề gốm, mặc dù đã có sự thay đổi trong nhu cầu tiêu dùng của xã hội, song vẫn chiếm vị trí quan trọng, mặt hàng sản xuất được bổ sung, kỹ thuật sản xuất được đổi mới. Hiển Lễ sản xuất thêm vật liệu xây dựng bao gồm gạch, ngói ta và ngói tây, một số gia đình đã sắm được máy dập ngói, một số gia đình du nhập kỹ thuật sản xuất đồ sành của Hương Canh để sản xuất các mặt hàng mới như: tiểu, chum, vại, cang, chĩnh… Trong tổng thu nhập hàng năm của cả làng, nghề gốm chiếm tới 50%. Ở một số gia đình có nhân lực thì thu nhập về nghề gốm chiếm khá lớn. Nếu có ba lao động làm quanh năm thì bình quân đầu người (tính ra thóc) là 8 tạ một năm, trong khi đó sản xuất nông nghiệp 4,4 tạ một năm. Thu nhập hàng năm tính theo đầu người của cả sản xuất nông nghiệp và làm gốm là 6 tạ.

Hiện nay ở Hiển Lễ người ta chuẩn bị gốm mộc và nhiên liệu trong những giai đoạn nông nhàn và mùa mưa. Mỗi nhà có một bàn xoay gốm bố trí ở nhà ngang có thể tận dụng được lao động của người già và trẻ em. Trong tương lai, Hiển Lễ sẽ xây dựng thêm một trạm bơm để tiêu nước ở đồng chiêm trũng cải tạo trồng mỗi năm hai vụ lúa, đồng thời tiến hành thả cá ở các đầm trũng ước tính một năm thu hoạch được 4 tấn cá. Mọi hủ tục trước kia được bãi bỏ, đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân làng gốm ngày một nâng cao.

Qua nghiên cứu nghề gốm cổ truyền Hiển Lễ, chúng tôi tạm rút ra một số nhận xét như sau:

1. Hiển Lễ nói riêng và các làng gốm cổ truyền nói chung đều vừa làm gốm vừa làm ruộng. Trước Cách mạng tháng Tám cơ cấu kinh tế nông nghiệp - thủ công nghiệp hình thành một cách tự phát. Tùy điều kiện cụ thể của làng mà nghề gốm trở thành nghề chính hoặc phụ. Có thể thấy rõ điều này qua các làng gốm: Hương Canh, làng Hoa (Vĩnh Phú); Phù Lãng, Thổ Hà (Hà Bắc); làng Chum (Thanh Hóa), Làng Cậy (Hải Hưng). Cho đến nay, vị trí của nghề gốm hoặc trở thành nghề phụ hoặc đang mất dần đi như làng Cậy, làng Hoa, Thổ Hà…

2. Tổ chức hành chính và xã hội ở Hiển Lễ cơ bản vẫn lấy nông nghiệp làm gốc. Các phường hội chỉ là tổ chức nghề nghiệp, không có địa vị chính trị và xã hội trong làng xã, chịu sự chi phối của tổ chức làng xã.

3. Sản xuất gốm gắn chặt với sản xuất nông nghiệp. Các mặt hàng gốm đất nung được sản xuất nhằm phục vụ cho sản xuất nông nghiệp và nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng của người nông dân. Thợ gốm vừa làm nông nghiệp vừa làm gốm.

4. Phân công lao động trong làng gốm, phụ nữ thường đảm nhận khâu chuốt, còn các công việc khác do đàn ông đảm nhiệm. Bí mật của nghề gốm nằm trong các yếu tố: lò nung, làm đất, làm men, thao tác kỹ thuật và đặc biệt là cách nung gốm.

5. Làng gốm có quy định riêng về việc giữ bí mật nghề nghiệp, được cộng đồng làng xã chấp nhận và bảo vệ, hình thành những tập quán sản xuất riêng.

6. Đời sống vật chất và tinh thần ở một làng gốm cơ bản giống với một làng nông nghiệp, vẫn lấy sinh hoạt văn hóa tinh thần của người làm ruộng làm gốc, đan xen vào đó là sinh hoạt văn hóa tinh thần liên quan đến nghề nghiệp ví dụ như việc thờ tổ nghề gốm, hội làng đan xen với hội nghề nghiệp, rước tổ xen với rước thành hoàng.


 



* Viết chung với Trần Anh Dũng, Tạp chí Dân tộc học, số 1+2 (57), 1988.

1. Dương Thị The - Phạm Thị Thoa, Tên làng xã Việt Nam đầu thế kỷ XIX, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1981, tr.81.

1. Trần Anh Dũng-Trần Quốc Vượng, Những di tích và di vật thời phong kiến ở Xuân Hòa, Mê Linh, Hà Nội, Tư liệu Viện Khảo cổ học, 1987.

2. Trần Anh Dũng - Nguyễn Ngọc Thanh, Khảo sát một làng gốm cổ truyền ở Mê Linh, Hà Nội, Tư liệu Viện Khảo cổ học, 1987.

1. Trần Anh Dũng-Nguyễn Ngọc Thanh, Nghề gốm làng Hoa, Tam Đảo Vĩnh Phú, Tư liệu Viện Khảo cổ học, 1987.

2. Tư liệu và làng gốm Hương Canh (Tam Đảo-Vĩnh Phúc) dùng trong bài này là do chúng tôi sưu tầm.

1. Xem Lê Đỗ Chương, Bùi Sĩ Thạch và Phên Xuân Hoàng, Vật liệu xây dựng, Nxb. Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội, 1977, tr.53-56.

Thứ Sáu, 4 tháng 12, 2020

LÀNG CỦA NGƯỜI HMÔNG Ở HUYỆN KỲ SƠN TỈNH NGHỆ AN - Nguyễn Ngọc Thanh - Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 3 (316), 2001.


 

Làng, tiếng Hmông gọi là , quy mô của làng qua khảo sát cho thấy ngày nay số hộ ở trong làng đông hơn trước rất nhiều. Theo các tư liệu cũ cho biết vào những năm 1960, các làng của người Hmông thường có quy mô từ 10-15 hộ, thậm chí có làng chỉ có 7 hộ. Hiện nay, quy mô của làng từ 30-50 hộ, làng đông từ 60-100 hộ.

Đặc điểm nổi bật của người Hmông là cư trú độc lập, ít sống xen kẽ với tộc người khác. Nếu sống xen kẽ thì họ cũng tách ra thành các chòm, xóm riêng. Các làng có cư trú xen kẽ giữa người Hmông với các dân tộc Thái, Việt cũng mới xuất hiện gần đây.

Một làng thường có từ 1 đến 4 dòng họ cư trú, người cùng dòng họ thường sống gần nhau, thể hiện tính khép kín tộc người, vấn đề này do nhiều nguyên nhân. Trước hết, do người Hmông có ý thức bảo tồn dân tộc rất cao, nên quan hệ hôn nhân chỉ trong nội bộ tộc người. Mặt khác, môi trường sống của người Hmông thường ở vùng cao, giao thông đi lại khó khăn, nên ít có cơ hội quan hệ với tộc người khác. Có thể nói trong làng người Hmông quan hệ dòng họ, quan hệ huyết thống nổi trội hơn.

Ngoài khu vực cư trú, từng làng còn có đất đai để canh tác và khai thác riêng rừng núi, nguồn nước, bãi chăn thả súc vật. Đất đai và nguồn tài nguyên đó chỉ có người làng mới được quyền khai phá, sử dụng. Người nơi khác tới làm trên đất phải xin phép. Mỗi làng đều có một khu đất sinh hoạt chung, đó là một bãi đất trống, tương đối rộng, ở rìa làng, đây là địa điểm hội họp, vui chơi của cả làng. Mỗi làng đều có hệ thống giao thông đó là những con đường mòn, hàng năm dân làng phải có nghĩa vụ tu sửa.

1. Bộ máy tự quản của làng

  1.1.Trưởng làng (Chư dò)

Trong xã hội truyền thống vai trò của Chư dò rất lớn, với tư cách là người đứng đầu bộ quản, mọi công việc của làng đều vận hành một cách trôi chảy, cùng với đức tính vô tư, công bằng nên vị trí của ông ta thường được bền lâu, chỉ khi nào già yếu, không làm được việc nữa lúc đó người ta mới tiến cử người khác thay thế.

Trong giai đoạn hiện nay, vai trò của Chư dò đang được phát huy, việc điều hành công việc trong nội bộ làng vẫn tuân thủ theo nguyên tắc truyền thống tức là dựa trên cơ sở luật lệ của làng để xử lý người vi phạm.

Người được chọn làm Chư dò phải có một số tiêu chuẩn sau:

- Là người trung thực, công tâm, biết phân biệt đúng sai. Khi có người vi phạm luật tục đứng ra giải quyết, không thiên vị bên nào, sức khỏe là một tiêu chuẩn vì công việc bắt phải đi nhiều.

- Biết cách ứng xử và giao thiệp rộng rãi, không những đối với dân làng sở tại mà đối với dân ở các làng khác, được mọi người tin cậy, có nhiều kinh nghiệm trong sản xuất, có anh em họ hàng đông.

- Am hiểu các phong tục tập quán, nói giỏi tiếng phổ thông, không hút thuốc phiện và không nát rượu.

Nhiệm vụ của người trưởng làng hiện nay là quán xuyến toàn bộ các công việc có liên quan đến lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hóa, an ninh trật tự. Trước hết người trưởng làng có nhiệm vụ tiếp nhận toàn bộ các chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước cũng như Nghị quyết của Đảng ủy, chính quyền xã, đồng thời phổ biến đầy đủ nội dung của các văn bản đó đến người dân, kịp thời phản ánh tâm tư, nguyện vọng của dân làng lên cấp trên.

Trưởng làng chịu trách nhiệm hướng dẫn dân làng tiến hành sản xuất, điều phối đất đai, nhắc nhở mọi người không xâm phạm đến khu vực canh tác của nhau.

Việc bảo vệ nguồn nước, bảo vệ rừng cấm trưởng làng chịu trách nhiệm cao nhất và có quyền xử phạt trực tiếp những ai chặt phá bừa bãi rừng đầu nguồn, làm ô nhiễm nguồn nước.

Trưởng làng còn là người hiểu biết rõ về nguồn gốc của từng dòng họ về các mối quan hệ hôn nhân, nắm chắc các phong tục tập quán, chịu trách nhiệm chính trong các vụ xử phạt người vi phạm luật tục, những trường hợp vượt quá khả năng cho phép như: chứa chấp người phạm tội, trưởng làng giao cho chính quyền xã xử lý theo pháp luật của Nhà nước.

Khi có những người xin nhập cư sinh sống trên địa phận của làng, trưởng làng phải thông báo cho các trưởng họ, già làng và đại diện các hộ gia đình biết, nếu được sự chấp thuận thì lúc đó trưởng làng mới ra quyết đinh cuối cùng.

Hàng năm vào dịp Tết (theo lịch Hmông) trưởng làng đứng ra chủ trì để cúng ma làng (đa giồng), và chỉ huy trai làng chôn cây cột cột ma làng (tù xông). Sau dịp Tết trưởng làng điều phối dân làng đi sửa đường, tu sửa nguồn nước.

Trưởng làng còn có nhiệm vụ duy trì trật tự an ninh, quản lý chặt chẽ con người. Nếu có khách hoặc người lạ mặt vào làng thì mọi người dân phải báo cho trưởng làng biết.

Trong làng, gia đình nào có người qua đời trưởng làng phải đến để cắt cử người giúp tang lo cho việc chôn cất.

Giúp cho trưởng làng còn có 1-2 phó trưởng làng:

Về quyền lợi, trưởng làng được Nhà nước trợ cấp khoảng 40.000đ/tháng. Còn các phó trưởng làng do dân đóng góp. Sự đóng góp này có khác nhau. Chẳng hạn ở Huổi Đun (xã Huổi Tụ) mỗi hộ đóng góp 2kg thóc/năm. Số thu được 50% chia cho phó trưởng làng, 50% làm quỹ của bản.

Còn ở Mường Lống 1 và Mường Lống 2 (xã Mường Lống) dân làng đóng góp chung 150 kg thóc/năm, số này phó bản được hưởng cả.

 1.2.Trưởng họ (Chứ xểnh)

Trưởng họ không phải là một chức dịch trong bộ máy tự quản của làng, nhưng đối với dòng họ, ông ta có uy quyền tuyệt đối, tiếng nói của ông ta được mọi người trong dòng họ tuân theo. Người Hmông quan niệm trưởng họ là người “nắm tay dân ở, mở tay dân đi”.

Đối với người Hmông, người được coi là trưởng họ phải am hiểu các qui định, các bài cúng của dòng họ mình, hiểu biết thành thạo các phong tục tập quán, biết lý lẽ và có tài ứng xử, có nhiều kinh nghiệm và giỏi tổ chức các hoạt động sản xuất, và luôn tận tình giúp đỡ người trong họ, được mọi người trong dòng họ yêu mến, người khác họ kính trọng.

Nhờ có uy tín và sự hiểu biết nên tiếng nói của họ rất quan trọng, thậm chí là quyết định.

Nhiệm vụ của trưởng họ là duy trì mọi sinh hoạt, nghi lễ của dòng họ mình. Khi một người nào đó trong dòng họ dựng vợ gả chồng cho con cái, thì trưởng họ phải có mặt để cúng bái, kính cáo cho tổ tiên biết. Có người qua đời, trưởng họ triệu tập các chủ gia đình trong họ bàn bạc việc chôn cất. Trưởng họ còn đứng ra giải quyết tranh chấp đất đai, tài sản, vi phạm luật lệ của dòng họ: vận động các thành viên trong dòng họ đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau trong những lúc khó khăn, thiếu thốn đồng thời chịu trách nhiệm trao quyền lại những phong tục, tập quán, kinh nghiệm sản xuất cho mọi người trong dòng họ.

Như vậy, trong cuộc sống của người Hmông, người trưởng họ giữ vai trò quan trọng; không những trong đời sống tinh thần mà còn trong nhiều hoạt động khác. Trong chừng mực nào đó trưởng họ giữ vị trí then chốt hơn cả những người làm nhiệm vụ trong bộ máy chính quyền.

Trong xã hội người Hmông, những hoạt động và tổ chức của dòng họ có mối quan hệ với nhau. Đã là công việc của dòng họ thì trưởng làng không can thiệp bởi lẽ theo quan niệm của người Hmông: “Việc của dòng họ phải giải quyết bằng lý của dòng họ”.

Ngược lại, đối với những công việc chung của làng như sửa đường, hoặc trong làng xảy ra trộm cắp, trưởng làng chỉ cần báo cho trưởng họ là mọi việc sẽ ổn thỏa.

Thoạt nhìn, có thể nghĩ rằng trưởng họ chỉ có vai trò trong lĩnh vực tinh thần (tín ngưỡng cưới xin, ma chay, thờ cúng), song trên thực tế, vai trò của người trưởng họ chi phối trong nhiều lĩnh vực: di chuyển dân cư, bố trí cán bộ, thực hiện các chủ trương của địa phươn và Nhà nước.

1.3.Già làng

Già làng bao gồm những bậc cha chú trong các dòng họ, đây là lớp người cũng có vai trò quan trọng trong cộng đồng làng, có nhiều kinh nghiệm trong lao động sản xuất, am hiểu phong tục tập quán, nắm vững “cái lý” của người Hmông, hiểu biết về các nghi thức ma chay cũng như quy ước chung của làng và dòng họ, công việc chung của làng luôn được người già đóng góp, ý kiến của họ thường phản ảnh nguyện vọng của dân làng cũng như của các dòng họ, nên nhiều khi trưởng làng, chính quyền xã phải lắng nghe và xử lý theo ý kiến của họ. Do vị trí của già làng như vậy nên trong việc triển khai các dự án cần xây dựng quan hệ tốt với già làng, tìm ở già làng tiếng nói ủng hộ.

1.4.Thầy cúng

Đây là những người đóng vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần của cộng đồng. Họ thay mặt cộng đồng giao thiệp với thế giới “thần linh”, cúng bái, chữa bệnh cho người ốm bằng hình thức bói toán, đuổi ma, trừ tà. Người Hmông khi ốm đau tin rằng cầu cúng là khỏi bệnh

2.    Những quy định biểu hiện tính luật tục

 Trong xã hội người Hmông từ bao đời nay đã tồn tại những luật tục liên quan tới đời sống cộng đồng, mặc dù chỉ thông qua truyền miệng nhưng buộc mỗi thành viên trong làng phải tuân theo nghiêm túc.

 2.1. Những quy định về đất đai

Trong phạm vi cư trú của từng cộng đồng làng, các gia đình được tự do khai phá nương rẫy, săn bắn và hái lượm rau rừng nhưng không được khai thác bừa bãi, tất cả đều tuân thủ những quy định chung:

Đi làm nương rẫy nếu thấy có cọc gỗ trên có cài là xanh (mùa pu) báo hiệu đất đó đã có chủ thì người khác không được xâm phạm đến. Nếu ai muốn làm trên đất của người khác chỉ cần thổ lộ nguyện vọng, thêm vào đó là chút quà mọn (chai rượu hoặc 3-4 đồng cân thuốc phiện), cho người đã có công khai phá. Mảnh nương đang phát, dọn mà nhà khác đến xâm phạm thì bị phạt bằng cách phải dọn sạch mảnh nương đó cho chủ cũ.

Đối với nương lúa và nương ngô sau 3,4 năm canh tác nếu gia đình không làm thì thuộc sở hữu công cộng, ai đến trồng trọt cũng được, không cần phải hỏi đến chủ cũ.

Người làng khác vì thiếu đất muốn đến canh tác thì nhất thiết phải đến hỏi trưởng làng và mang kèm theo một chai rượu. Khi đã được đồng ý, hàng năm sau mùa thu hoạch đem nộp lệ phí cho làng tùy theo chất lượng thu hoạch được ở từng mảnh đất. Nếu nơi đất lẫn nhiều đá thì nộp theo mức nành cổ xia (20.000đ) còn chỗ đất tốt nộp pề chổ xia (30.000đ), mức nộp này không phụ thuộc vào mảnh nương bé hay lớn. Tuy nhiên, việc làm trên những mảnh nương như thế cũng chỉ giới hạn trong ba năm, nếu quá thời gian cho phép thì bị thu lại nương và tịch thu toàn bộ sản phẩm.

Đất đai của làng nào thì làng đó quản lý, không để người làng khác xâm phạm (làm nương, thu hái lâm sản quý), người nào không tôn trọng quy ước đều bị xử phạt nặng.

2.2.       Những quy định về việc bảo vệ nguồn nước và rừng

Người Hmông rất coi trọng nguồn nước và có nhiều nghi lễ, luật tục nhằm bảo vệ và xử phạt những người cố tình vi phạm. Đầu năm mới (Tết Hmông) trưởng làng đứng ra điều hành việc tu sửa nguồn nước, vào ngày đã định, các gia đình cử một người tới lấy nước của làng, mang theo công cụ (dao, cuốc v.v…) để khơi dòng chảy, đào đắp bờ, làm hàng rào, đóng nắp gỗ mới, tu sửa hệ thống dẫn nước bằng máng tre, công việc phải hoàn thành trong ngày. Vào đêm 30 Tết Hmông, đồng bào có tục lệ đi lấy nước nguồn (hủa đề xia) theo tập quán khi tiếng gà gáy đầu tiên vang lên báo hiệu đêm cuối cùng đã hết, năm mới đã về, lúc này mỗi nhà cử một người mang theo ống tre, ống nứa hoặc thùng gỗ đi lấy nước, tới nguồn nước người ta bắn sung hoặc đốt pháo rồi đồng thanh nói: năm cũ qua đi năm mới tới, mọi ốm đau bệnh tật và những điều không tốt lành thì trôi theo năm cũ. Năm mới về làm ăn may mắn, đạt nhiều kết quả tốt. Dứt lời người ta lấy dụng cụ múc nước mang về nhà. Có gia đình sáng mùng Một Tết lấy 3 giọt nước của năm cũ và 3 giọt nước của năm mới đặt lên cân tiểu ly, nếu thấy trọng lượng nước năm mới nặng hơn nước năm cũ thì họ tin rằng là năm: “mưa thuận gió hòa”, mùa màng bội thu, nếu trọng lượng bằng nhau hoặc nhẹ hơn, năm đó làm ăn gặp nhiều trắc trở. Nước lấy về được đem nấu ăn ngay buổi sáng. Người Hmông ở đây quan niệm làm như vậy sẽ tẩy rửa được hết mọi rủi ro, những điều tốt lành sẽ đến.

Trong một số nghi lễ gia đình, người Hmông lấy nước để thực hiện nghi lễ, chẳng hạn trong cúng dòng họ (thi su) để chọn thầy cúng người ta hay sử dụng hình thức bói nước hoặc cúng người ốm, sau khi hành lễ xong thầy cúng cũng dùng nước suối, làm nước “thánh” vẩy lên người ốm để trừ tà.

Để bảo vệ nguồn nước, người Hmông đề ra một số quy định cấm tắm, giặt, mổ lợn gà ở nguồn nước (hố đê), nơi khơi dòng lấy nước ăn (pá đê), ai vi phạm lần đầu nhắc nhở, giáo dục, nếu lần sau tái phạm, nộp phạt một con gà một quả trứng, một bát gạo mang đến nhà trưởng làng, ông ta đưa số lễ vật đó ra chỗ lấy nước chung của làng trước sự chứng kiến của đông đảo dân làng rồi lễ và nói: chỗ này là nơi mọi nhà tập trung lấy nước về ăn, anh (chị) tự tiện đến tắm giặt làm ô uế, nên phải làm lễ này cúng thần nước.

Làm độc hại, gây bẩn đục nguồn nước, xưa kia người nào mắc phải bị phạt theo hai mức:

- Nếu thả bả độc đánh cá trên nguồn nước dùng chung cho vài ba bản thì phạt 7 lạng 2 bạc trắng.

- Có mâu thuẫn mà dùng bả độc thả vào nguồn nước nhằm mưu hại nhau bị phạt 12 lạng bạc trắng

Hình thức phạt bạc trắng trước đây qui định chung cho tất cả người Hmông ở Kỳ Sơn. Ngày nay mức phạt chuyển sang bằng tiền và mỗi làng áp dụng một khác, chẳng hạn ở Thảm Lạng người nào mắc tội thả chất độc xuống sông suối thì bị phạt từ 200.000đ đến 300.000đ, ở Mường Lống phạt 500.000đ.

Bỏ thịt thối, gà chết vào nguồn nước mà bắt được quả tang phạt từ 10.000đ đến 50.000đ.

Người Hmông quy định những khu rừng cấm, nghiêm cấm mọi người chặt phá cây rừng, ai vi phạm bị phạt một con lợn, ngày nay chuyển nộp phạt bằng tiền từ 50.000 đến 100.000đ.

Những cây mọc tự nhiên thuộc quyền sử dụng chung của làng, mọi người phải có trách nhiệm bảo vệ, còn nếu cây do con người trồng thì nó thuộc quyền sở hữu của người đó, ai tự ý chặt sẽ bị phạt theo hình thức “chặt một cây trồng đền 10 cây khác”.

Một số loại cây đặc biệt có thể thay lương thực vào những tháng giáp hạt như cây đòng đành, người nào đánh dấu mùa pu tức là cây đó đã có chủ. Những cây mọc trên đất canh tác của gia đình nào thì thuộc quyền sử dụng của gia đình đó.

2.3.  Những quy định về bảo vệ mùa màng và chăn nuôi

Trong từng làng quy định chỗ chăn thả trâu bò riêng gọi là lút xá xia, xung quanh được rào dậu cẩn thận, ở đó không ai được tự tiện đến phát đốt làm nương. Vào thời vụ từng nhóm gia đình canh tác gần nhau cùng hợp lực làm rào chắn khu vực trồng trọt ấy, trên các ngả đường vào làng, vào nương người ta làm hàng rào bằng gỗ, làm cổng làng bằng gỗ hoặc tre, ai qua lại phải đóng cửa.

Luật tục xử phạt nghiêm minh những gia đình nào để trâu, bò, lợn, gà tự do phá hoại mùa màng. Nếu trâu, bò vượt rào phá hoại cây trồng thì chủ của nương được quyền bắn chết con vật đó. Và mời trưởng làng cùng người già có uy tín đến tận nơi xác định giá trị hoa màu bị hư hại. Nếu chỗ hoa màu giá trị tính ra lớn hơn con vật bị bắn chết thì chủ chăn nuôi phải đền toàn bộ chỗ hoa màu bị phá hoại và được phép đem con vật về nhà mổ thịt, trường hợp chỗ hoa màu bị thiệt hại không đáng kể, chỗ hoa màu không bằng giá trị của con trâu, bò thì chủ nương, chủ chăn nuôi chia nhau, mỗi bên một nửa; còn lợn thả rông mà vào nương phá hoại thì theo nguyên tắc tủa no, pua dứ (lợn ăn, lợn trả) tức là chủ nương được phép bắn chết.

Một số quy định khác

Ngoài luật tục quy định về nguồn nước, rừng cấm, bãi chăn nuôi trong từng cộng đồng làng của người Hmông còn tồn tại nhiều luật tục và quy định khác.

Chẳng hạn, quy định mộ chí của người chết phải đặt bên sườn của quả núi và do thầy địa lý chọn. Người già qua đời được chôn cất nơi cao ráo, những người mất chôn cất sau, mộ phải đặt phía dưới cách 5 m. Người ta cũng quy định mộ chí không được chôn gần nguồn nước dễ gây ô nhiễm, nếu ai làm sai thì phải giết một con bò để sửa mộ.

Việc xâm phạm của riêng bị nghiêm trị, ăn trộm bị bắt quả tang, tùy theo mức độ giá trị của tài sản mà kẻ lấy trộm sẽ bị phạt theo 3 mức:

- Ăn trộm gà, lúa lần thứ nhất bị bắt quả tang phạt 1 lạng 2 bạc trắng.

- Ăn trộm gà, lúa và gây mất đoàn kết phạt 2 lạng 4 bạc trắng.

- Ăn trộm nhiều lần, giáo dục không chịu sửa chữa, tiếp tục tái phạm 3 lạng 6 bạc trắng. Trường hợp tang vật chưa tiêu tán, người đó mang tận nơi trả lại chủ nhà thì không phải nộp phạt nữa, nhưng suốt đời bị dân làng chê cười, xa lánh.

Luật tục xử phạt nặng mối quan hệ bất chính giữa nam và nữ. Đối với tội ngoại tình hoặc chửa hoang xử phạt theo 3 mức:

- Ngoại tình bị bắt quả tang phạt 7 lạng 2 bạc trắng.

- Ngoại tình nhưng làm cho gia đình đó chia lìa thì chịu phạt 24 lạng bạc trắng.

- Chưa tổ chức lễ cưới mà trai gái đã chung chăn gối, người con gái có thai nhưng chàng trai không lấy làm vợ hoặc làm cô gái bị chết thì kẻ đó bị phạt 36 lạng bạc trắng.

Vợ chồng bỏ nhau thì chia đều tài sản do hai người làm ra trong quá trình chung sống, của cải bố mẹ cho lúc thành hôn không được chia, riêng con cái theo luật tục: con trai theo cha, con gái theo mẹ, nếu bỏ nhau mà lỗi do người chồng hay vợ gây ra thì phạt riêng người đó.

Trong cộng đồng người Hmông, ăn cắp và hủ hóa là hai tội bị khinh ghét nhất, người nào mắc phải không những dân làng chê cười mà còn bị anh em họ hàng xa lánh.

Nhìn chung, những quy định được mô tả trên đây xưa và nay đã góp phần tích cực trong việc duy trì và điều chỉnh mọi hoạt động trong cộng đồng làng Hmông. Đó là cơ sở pháp lý của hệ thống tự quản ở từng làng.

3.   Vài nhận xét

Làng Hmông tuy không phải là đơn vị hành chính cấp cơ sở nhưng vai trò của làng rất lớn. Mọi chủ trương, chính sách, đường lối của Đảng, Nhà nước Việt Nam có đến được với dân hay không đều thông qua cấp làng. Trưởng làng vừa là người đại diện cho dân làng, vừa là người đại diện cho chính quyền. Vai trò của trưởng làng được đề cao. Tuy nhiên, nhiệm vụ của trưởng làng hiện tại vẫn chủ yếu quản lý nhân khẩu, phổ biến chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước đến người dân. Mọi công việc đều do xã điều hành trực tiếp. Việc đầu tư phát triển chủ yếu vào quy mô cấp xã. Trong khi đó người dân vẫn gắn kết chặt chẽ với làng hơn là cấp xã.

Ở người Hmông: trưởng làng, trưởng họ, già làng, thầy cúng là những nhân vật rất có uy tín trong cộng đồng. Mỗi vị trí, chức vụ đó dù là do dân cử như (trưởng làng) hay suy tôn (trưởng họ, già làng, thầy cúng) đều có vai trò quan trọng trong sự vận hành của làng, được dân làng ngưỡng mộ. Tiếng nói của họ thậm chí đôi khi còn có tác dụng hơn cả chính quyền, họ có uy tín và được mọi người kính nể, nếu tranh thủ được họ, đưa họ tham gia vào một số công việc chung của xã thì rất hiệu quả. Họ đã nói thì dân nghe và làm theo. Muốn tranh thủ được những người này, cần phải hướng dẫn tận tình, mềm dẻo, kiên trì, giải thích ngắn gọn, khéo léo, tế nhị và cũng phải có sự động viên thỏa đáng.

Người Hmông sống phóng khoáng, tự lực cánh sinh, tư duy cụ thể thiết thực, trình độ dân trí còn thấp, tiếp nhận tiến bộ khoa học chậm, nhưng sẵn sàng học hỏi, noi theo các điển hình xây dựng kinh tế gia đình tốt xuất hiện trong cộng đồng.

Xã hội người Hmông có hệ thống luật tục riêng, không được ghi chép bằng văn bản mà chỉ truyền miệng từ thế hệ này sang thế hệ khác, được mọi người trong cộng đồng tự giác thực hiện. Những luật tục này như là một cương lĩnh tinh thần đối với mọi tổ chức xã hội khác nhau trong làng xã. Luật tục này có tác động đến mọi thành viên của làng dù người đó là cán bộ hay dân thường, là người của dòng họ này hay dòng họ khác. Bên cạnh đó mỗi dòng họ vẫn duy trì những quy định riêng trong một số lĩnh vực: tang ma, nghi lễ cúng bái của dòng họ. Do vậy, luật tục trở thành sợi dây vô hình nhưng bền chặt cố kết mọi thành viên trong cộng đồng.

Trên cơ sở các luật tục truyền thống có thể triển khai xây dựng các quy ước mới của cộng đồng trong việc bảo vệ đường, hệ thống bể nước, ống dẫn nước, sử dụng đất đai, rừng… Những quy ước này soạn thảo cần phải có sự đóng góp ý kiến của người dân. Có như vậy thì hiệu quả của việc đầu tư của Chính phủ, các tổ chức quốc tế mới phát huy tác dụngq

 

Thứ Sáu, 30 tháng 10, 2020

BẢO TỒN VĂN HÓA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ RẤT ÍT NGƯỜI THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA - Nguyễn Ngọc Thanh, Tạp chí Văn hóa học, số 3 (43), 2019.

 

                                             

      1.Mở đầu

Việt Nam là một quốc gia - dân tộc đa tộc người, trong đó có 53 dân tộc thiểu số (DTTS). Sự đa dạng về thành phần dân tộc và văn hóa là một đặc trưng của Việt Nam so với nhiều quốc gia khác. Tuy nhiên, đa dạng dân tộc và các đặc điểm văn hóa cũng đặt ra những thách thức nhất định cho công cuộc phát triển cộng đồng các dân tộc ở nước ta, nhất là sự chênh lệch về nhịp độ phát triển kinh tế - xã hội giữa các dân tộc, các vùng miền. Bên cạnh các dân tộc cư trú ở những khu vực địa lý  tự nhiên thuận lợi về canh tác nông nghiệp và giao thương, trình độ sản xuất cao, kinh tế ổn định; lại có những dân tộc cư trú trên những địa bàn có điều kiện hết sức khắc nghiệt, đời sống bấp bênh, đói nghèo, bệnh tật. Hơn nữa, những điều tra quy mô lớn ở vùng dân tộc, miền núi cho thấy, tiến bộ đạt được trong xóa đói giảm nghèo không đồng đều giữa các vùng và giữa các nhóm dân tộc[1].

2. Một số thách thức trong bảo tồn văn hóa các DTTS rất ít người

    Trong 53 DTTS ở Việt Nam, có16 dân tộc được xếp vào nhóm dân số rất ít người (dưới 10.000 người). Đó là các dân tộc: Rơ-măm, Ơ-đu, Brâu, Pu Péo, Si La, Ngái, Cống, Bố Y, Cơ Lao, Mảng, Lô Lô, Lự, Chứt, Pà Thẻn, La Ha, La Hủ, với dân số là 55.081 người, địa bàn cư trú chủ yếu miền núi 11 tỉnh: Hà Giang, Cao Bằng, Điện Biên, Lai Châu, Sơn La, Lào Cai, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Quảng Bình, Nghệ An, Kon Tum[2]. Các dân tộc này có số phận lịch sử khác nhau, một số dân tộc được hình thành tại chỗ hoặc di cư đến Việt Nam từ rất lâu đời; một số dân tộc mới định cư ở Việt Nam trong những thế kỷ gần đây, cũng có dân tộc chỉ xuất hiện duy nhất ở Việt Nam; trong khi số còn lại có không ít những đồng tộc ở các nước láng giềng... Quá trình tộc người gắn với các yếu tố lịch sử và địa lý tự nhiên khiến cho các dân tộc rất ít người có trình độ phát triển chênh lệch nhau, nhưng nhìn chung là thấp hơn hẳn so với các tộc người dân số đông, định cư lâu đời ở những khu vực thuận lợi cho phát triển và giao lưu (Thái, Tày, Mường, Chăm, Khơ-me...). Sự chênh lệch này không đơn thuần chỉ là khoảng cách về đời sống mà còn lệ thuộc về kinh tế, chính trị lẫn văn hoá, xã hội vào những dân tộc đông dân hơn (chẳng hạn, người La Ha, La Hủ, Cống, Si La... xưa kia bị lệ thuộc, làm nô lệ cho những chúa đất và các chức dịch người Thái; người Bố Y lệ thuộc hệ thống quản lý do người Tày, hay người Hmông, người Dao chi phối)... Điều này đã góp phần kìm hãm sự vươn lên và khẳng định mình của các dân tộc rất ít người một thời gian dài trong lịch sử, đồng thời để lại những hệ quả (về văn hóa, ngôn ngữ…) tác động không nhỏ đến sự vận động, phát triển của các dân tộc này trong hiện tại và tương lai.

    Trên con đường hội nhập vào mặt bằng phát triển chung của các địa phương, vùng miền và quốc gia, các DTTS rất ít người đang đứng trước nhiều vấn đề cần giải quyết để từng bước hòa nhập và giảm khoảng cách phát triển với mặt bằng chung của quốc gia.

Có thể thấy rằng, phần lớn các DTTS rất ít người đã và đang phân bố ở những địa bàn xa xôi, hẻo lánh, địa hình hiểm trở, cách xa đô thị, cách xa đồng bằng... Trước thập niên 1950 của thế kỷ XX, có những dân tộc trong số này còn ở tình trạng biệt lập, khép kín, ít cơ hội tiếp xúc với xã hội bên ngoài. Cá biệt có nhóm người Rục, Arem, Mã Liềng (nhóm địa phương của dân tộc Chứt) ở miền núi phía tây Quảng Bình sống hoàn toàn cô lập, chỉ biết săn bắt hái lượm, lấy hang đá làm nhà và bị “nguyên thủy” hóa[3].

Ngày nay, khoảng cách địa lý và khó khăn về giao thông đi lại vẫn là một trở lực rất lớn đối với các dân tộc này trong việc giao lưu học hỏi cũng như việc thụ hưởng lợi ích từ những chính sách, chương trình phát triển quốc gia (không kể đến người Ngái vốn có trình độ phát triển tương đối cao, lại cư trú ở những vùng thuận lợi cho giao lưu hơn), đa số cư dân các DTTS rất ít người phải đối mặt với tình trạng đói nghèo, thất học, chăm sóc sức khỏe hạn chế và điều kiện sinh hoạt không đảm bảo, dễ bị ảnh hưởng bởi thảm họa thiên tai (lũ quét, lũ ống, cháy rừng…). Báo cáo kết quả điều tra thực trạng kinh tế - xã hội 53 DTTS năm 2015 của Ủy ban Dân tộc cho biết:

- Nhóm DTTS rất ít người có tỷ lệ hộ nghèo rất cao. Có những dân tộc tỷ lệ hộ nghèo lên đến trên 70%, như La Hủ, Mảng và Chứt.

- Khoảng 55,3% dân số nhóm DTTS rất ít người từ 15 tuổi trở lên biết đọc, biết viết; tức là gần non nửa dân số thuộc diện mù chữ.

- Lực lượng lao động có trình độ ở các DTTS rất ít người vẫn còn ít ỏi, đặc biệt là 4 dân tộc La Hủ, Rơ-măm, Mảng và Brâu tỷ lệ lao động đã qua đào tạo chỉ dưới 2,0%.

- Khoảng cách đặc biệt xa từ nhà đến các cơ sở y tế là một thực trạng ở nhiều DTTS rất ít người. Ở người La Ha, La Hủ, Chứt, Mảng, Cống bệnh viện cách nhà từ 32,6 đến 48 km, người Rơ-măm và Ơ-đu bệnh viện cách nhà từ 60,1 đến 72 km.

- Về điều kiện sinh hoạt, 13/16 DTTS rất ít người tỷ lệ hộ có nhà kiên cố dưới mức trung bình của 53 DTTS là 14,5%; 10/16 DTTS rất ít người, tỷ lệ hộ sử dụng nguồn nước hợp vệ sinh dưới mức trung bình, chiếm 73,3%. Hiện tại, một số dân tộc như Ơ-đu, Rơ-măm, Si La, Lự và Brâu, lưới điện quốc gia đã bao phủ gần như toàn bộ thôn bản (tỷ lệ hộ dùng điện lưới từ 99% đến 100%), thì vẫn còn những dân tộc có tỷ lệ dùng điện lưới dưới 80%; trong đó, đặc biệt là dân tộc Mảng, La Hủ và Lô Lô, dưới 50,0% hộ có điện sinh hoạt[4].

Hệ thống chính trị cơ sở ở vùng DTTS rất ít người cũng còn nhiều bất cập, chậm được kiện toàn và củng cố, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa. Cán bộ cơ sở vừa thiếu vừa yếu, nhất là cán bộ người dân tộc; các điều kiện cơ sở vật chất, các chế độ đãi ngộ cần thiết để hoạt động chưa đảm bảo. Một số cán bộ cơ sở không biết chữ hoặc chỉ đạt trình độ Tiểu học, đa phần chưa qua đào tạo chuyên môn và quản lý Nhà nước.

Về quản lý xã hội, các DTTS rất ít người là những thành phần chịu ảnh hưởng mạnh của chính sách đất đai liên quan đến bảo vệ rừng và hoạt động tái định cư phục vụ cho các dự án thủy điện. Việc bố trí lại lực lượng lao động và di dịch dân cư làm tăng quá trình xen cư mạnh mẽ giữa họ và các dân tộc khác, dẫn đến những quan hệ mới nảy sinh cần được nhận thức và xử lý đúng đắn.

 Trong bối cảnh quá trình phát triển và tăng cường giao lưu, hội nhập đã và đang tác động mạnh mẽ đến đời sống vùng DTTS miền núi, những điều kiện kể trên nhìn chung khiến cho khả năng tự bảo tồn, phát huy văn hóa truyền thống của nhóm DTTS rất ít người bị hạn chế.

 Hiện tượng mai một và mất dần bản sắc văn hóa (pha tạp, biến đổi, biến thái văn hóa…) ở các DTTS rất ít người đang ngày càng diễn ra theo nhiều chiều cạnh khác nhau. Việc chú ý bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp còn lơi lỏng nên xu hướng của thanh niên hiện nay là hướng vào cái mới, cái hiện đại mà quên đi những gì tổ tiên để lại.

Kết quả điều tra thực trạng kinh tế - xã hội của 53 DTTS đã cung cấp dữ liệu so sánh hữu ích cho việc làm rõ sự mai một và mất dần bản sắc văn hóa truyền thống của 16 tộc người có dân số ít. Theo đó, điển hình đáng lo ngại nhất của việc không biết tiếng mẹ đẻ, người Ơ-đu chỉ còn  27,7% số người nói được ngôn ngữ của dân tộc mình, người Cơ Lao (45,5%), Ngái (50,8%), La Chí (64,4%) và La Ha (67,3%). Đặc biệt có 5 dân tộc tỷ lệ người biết đến bài hát truyền thống, điệu múa và sử dụng nhạc cụ truyền thống dưới 30%, thấp nhất là người Ngái (8,49%) và Ơ-đu (10,55%)[5].

Sự thay đổi dễ nhận thấy trong văn hóa vật chất của các DTTS rất ít người qua trang phục và nhà ở. Hiện nay, phần lớn trẻ và nam giới đều mặc âu phục. Phụ nữ vẫn mặc theo truyền thống nhưng không phải là những chiếc váy do chính bàn tay họ tự dệt mà thay bằng các loại vải bán ở thị trường hoặc những chiếc váy may sẵn du nhập từ Trung Quốc. Nhà ở trình tường, mái lợp ngói âm dương, tường rào bằng đá một đặc trưng của các tộc người vùng biên giới phía Bắc cũng đang dần thay thế bằng nhà xây theo kiến trúc của các tộc người bên kia biên giới

Có thể nói, từ ngôn ngữ, các vật dụng của cuộc sống hàng ngày, đến kiến trúc nhà ở, các lễ nghi trong đời sống xã hội (hôn nhân, tang ma, thờ cúng...) mang đậm nét bản sắc truyền thống và khác biệt của từng tộc người ít còn được duy trì, thay vào đó là nét văn hóa của nhóm đa số. Hệ luỵ từ xu hướng này sẽ để lại những hậu quả khó lường, nó không đơn thuần chỉ là mai một bản sắc văn hoá truyền thống tộc người, mà kết hợp với các tác động kinh tế - xã hội khác có thể dẫn đến không còn sự hiện diện của một số tộc người thiểu số trong tương lai[6].

        Dân số và phát triển ở các DTTS rất ít người cũng là một vấn đề đáng phải suy nghĩ, 5 dân tộc Si La, Pu Péo, Rơ-măm, Brâu, Ơ-đu có dân số dưới 1.000 người, chủ yếu sống ở một làng và thuộc diện cần phải bảo tồn đặc biệt. Trong đó,  hai dân tộc Pu Péo và Si La dân số giảm đi đáng kể giữa hai cuộc Tổng điều tra dân số và nhà ở gần đây nhất, năm dân tộc từ 1.000 đến dưới 5.000 là Lô Lô, Mảng, Cơ Lao, Bố Y, Cống tuy có nguy cơ thấp hơn nhưng tốc độ tăng dân số cũng rất chậm[7]. Nhiều ý kiến cho rằng, các DTTS rất ít người đang đứng trước nguy cơ suy thoái giống nòi; nguyên nhân là vì nạn tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống, ở 16 DTTS rất ít người, tỷ lệ tảo hôn là 8,8%o (trung bình 53 dân tộc là 6,5%o), tỷ lệ hôn nhân cận huyết thống là 41,3% (trung bình 53 dân tộc là 21,0%), tập quán sinh đẻ lạc hậu, tỷ lệ suy dinh dưỡng cao... làm tuổi thọ của họ thấp hơn rất nhiều so với mặt bằng chung của cả nước[8].  

    Các DTTS rất ít người chủ yếu sống ở địa bàn vùng sâu, vùng xa, cũng là vùng nhạy cảm về an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội. Đời sống thiếu đầy đủ và các nguy cơ đe dọa đối với sự tồn tại lâu dài của của tộc người tạo cơ hội cho các lực lượng thù địch lợi dụng để xuyên tạc, phủ nhận những thành quả trong chính sách dân tộc của Việt Nam. Điều đó cũng có nghĩa rằng sự quan tâm giải quyết thỏa đáng những vấn đề thực tiễn đang xảy đến đối với các DTTS rất ít người sẽ đem lại hiệu quả chính trị là nâng cao lòng tự hào, tự tôn dân tộc, chống lại những âm mưu phá hoại, chia rẽ, gây mất ổn định và đoàn kết dân tộc.

    3. Chính sách bảo tồn văn hóa và phát triển các tộc người có dân số rất ít người

Từ giữa thế kỷ XX đến nay, chính sách dân tộc của Việt Nam đã không ngừng hoàn thiện. Đảng và Nhà nước ta đã từng bước xây dựng khung chính sách dân tộc được đánh giá là tiến bộ cả về quan điểm lẫn hành động, đồng thời cũng phù hợp với đa số các diễn ngôn quốc tế liên quan đến vấn đề dân tộc trong một quốc gia đa dân tộc. Với việc đặt ra và tuân thủ 3 nguyên tắc “bình đẳng”, “đoàn kết”, “tương trợ”, chính sách dân tộc luôn được quan tâm, chú trọng nhằm thiết lập sự bình đẳng và hòa nhập phát triển, củng cố, tăng cường sự đoàn kết thống nhất của cộng đồng các dân tộc. Nhiều chính sách, giải pháp của Chính phủ nhằm hỗ trợ nâng cao đời sống các DTTS trên cả nước đã được triển khai và gặt hái được nhiều thành tựu đáng kể. Chương trình 135, 134, 30 A, Chương trình hỗ trợ nhà ở cho các hộ nghèo, Chương trình 5 triệu hécta rừng... đã có tác dụng đưa các DTTS - bao gồm cả các dân tộc rất ít người - từng bước hòa nhập vào sự phát triển chung của đất nước.

Nhận thức về hoàn cảnh đặc biệt và những nguy cơ đối với các DTTS rất ít người, thời gian gần đây, Đảng và Nhà nước đã có những động thái cụ thể đối với các tộc người này. Bên cạnh một số điều được quy định trong Hiến pháp, Nghị quyết, Nghị định liên quan đến chính sách dân tộc và công tác dân tộc, vấn đề DTTS rất ít người đã được giải quyết qua một số Đề án, Dự án cụ thể được ban hành theo các Quyết định của Thủ tướng Chính phủ hoặc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Cụ thể, 5 dân tộc có dân số dưới 1.000 người là Si La, Pu Péo, Rơ-măm, Brâu, Ơ-đu được đưa vào danh sách cần quan tâm đặc biệt. Từ năm 2005, các chương trình hỗ trợ phát triển 5 dân tộc này đã được thực hiện bên cạnh các chương trình hỗ trợ giảm nghèo toàn quốc khác. Trong những năm tiếp theo, Chính phủ phê duyệt nhiều đề án, dự án quan trọng khác như Đề án “Phát triển giáo dục đối với các dân tộc rất ít người giai đoạn 2010 - 2015” (2010); Đề án “Bảo tồn, phát triển văn hóa các DTTS Việt Nam đến năm 2020” (2011) và Dự án “Bảo tồn khẩn cấp và hỗ trợ, tăng cường năng lực bảo tồn, phát triển văn hóa các dân tộc, bài trừ hủ tục ở vùng đồng bào DTTS” (2013); Đề án “Phát triển kinh tế - xã hội vùng các dân tộc: Mảng, La Hủ, Cống, Cờ Lao” (2011); gần đây nhất là Đề án “Hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội các DTTS rất ít người giai đoạn 2016 - 2025” (2016).

Theo quan điểm của Đảng và Nhà nước ta, chính sách nhất định phải được các tộc người thụ hưởng, hướng tới phát triển kinh tế, nâng cao đời sống người dân, nhưng phải gìn giữ được bản sắc văn hóa của họ. Điều này xuất phát từ nhận thức bảo tồn để phát triển và phát triển giúp cho việc bảo tồn tốt hơn, là sự cân bằng giữa bảo vệ các giá trị văn hóa dân tộc và sự hội nhập quốc tế. Theo đó, chính sách bảo tồn và phát triển các DTTS rất ít người ở Việt Nam nên được nghiên cứu xây dựng dựa trên 3 yếu tố có quan hệ chặt chẽ với nhau:

Thứ nhất,bảo tồn và phát triển dân số tộc người: lịch sử thường cho thấy, các cộng đồng tộc người có dân số rất ít người dù có giàu bản sắc như thế nào thì cũng có nguy cơ bị ảnh hưởng về văn hóa cao khi cư trú gần hoặc xen lẫn các cộng đồng có dân số đông hơn, đặc biệt là các nhóm bị xé lẻ, cư trú phân tán ra nhiều khu vực, có lịch sử di cư lâu dài. Trên thực tế,  việc kiểm soát dân số là một trong những lĩnh vực khó khăn nhất trong quản lý quốc gia. Phát triển dân số tộc người, vì vậy, gắn với các biện pháp khuyến khích sinh sản đối với các tộc người có dân số rất ít người. Trong một vài trường hợp, chính sách bảo tồn và phát triển dân số tộc người có thể chuyển trọng tâm từ khuyến khích sinh đẻ sang nâng cao chất lượng dân số. Chất lượng dân số ở đây thể hiện qua các yếu tố đầu vào như tỷ lệ suy dinh dưỡng, tỷ lệ tử vong, tuổi thọ trung bình, tần suất mắc các bệnh, đặc biệt là các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm. Các khía cạnh xã hội như nhu cầu và nhận thức của người dân, khả năng cung ứng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, vệ sinh - môi trường và đẩy lùi dịch bệnh, củng cố hệ thống y tế… hiệu quả sử dụng tri thức địa phương trong đối phó với bệnh tật, các thực hành văn hóa ảnh hưởng đến chất lượng dân số (phong tục sinh đẻ và nuôi con, tảo hôn và hôn nhân cận huyết) cần được xem xét, phân tích thấu đáo.

Thứ hai, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa tộc người: văn hóa là lĩnh vực rất rộng nên việc bảo tồn và phát huy cần tập trung vào những giá trị độc đáo của tộc người để tránh sự đầu tư dàn trải, không đúng trọng tâm. Hiệu quả của chính sách văn hóa được xem xét trước hết ở chỗ người thực thi chính sách làm cách nào để nhận diện được trọng tâm của sự bảo tồn, sau đó là việc đưa phát hiện đó gắn với chuỗi các hành động tiếp theo, bao gồm cả việc lôi kéo, thuyết phục cộng đồng cùng hành động. Ở đây, để nâng cao chất lượng đánh giá, có thể xem xét thêm về yếu tố chuyên môn và đạo đức, tâm huyết, trách nhiệm nghề nghiệp của người được giao nhiệm vụ đánh giá các giá trị văn hóa.

Cách đây hơn 30 năm, đã có lời cảnh báo về tình trạng nhiễu loạn văn hóa đương diễn ra ở nước ta với những mức độ khác nhau, ở những địa phương, tộc người khác nhau, được thể hiện ở tình hình chưa ổn định trong đời sống nói chung và văn hóa nói riêng, ở những ý kiến dường như khác nhau giữa các nhà nghiên cứu, và quần chúng nhân dân về những biểu hiện hành vi văn hóa trong xã hội, mặc dầu không ai không tán thành đường lối, phương châm xây dựng văn nhóa của Đảng[9]. Đến nay lời cảnh báo đó vẫn còn nguyên giá trị.

Nhìn chung, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa tộc người tại Việt Nam thường tiếp cận trên hai phương diện văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể. Văn hóa vật thể bao gồm: nhà cửa, trang phục, ẩm thực, nhạc cụ, phương tiện sản xuất, đi lại... Văn hóa phi vật thể gồm: phong tục, tập quán, tri thức địa phương, tổ chức xã hội, lễ hội, văn học, nghệ thuật dân gian. Ngôn ngữ thường được nhắc đến như một lĩnh vực đặc thù đã có chính sách riêng (mặc dù có thể xếp vào văn hóa phi vật thể). Vấn đề quan trọng hơn là phải xác định được các lĩnh vực, yếu tố cần ưu tiên bảo tồn khẩn cấp, đồng thời đánh giá được việc đáp ứng các nhu cầu và sự tham gia của người dân về bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của chính họ theo quan điểm phát triển bền vững về văn hóa. Vì vậy, đề xuất giải pháp cần chỉ rõ làm thế nào để người dân có thể tiếp cận các nguồn lực từ những chương trình văn hóa đã được thực thi, cũng như quyền của họ đối với các phương tiện hay môi trường nền tảng cho sự đảm bảo duy trì các yếu tố truyền thống (ví dụ như rừng, thiết chế nhà cộng đồng, luật tục).

Thứ ba, phát triển đời sống kinh tế - xã hội: là một trọng tâm quan trọng của mục tiêu phát triển tộc người. Đây là quá trình nâng cao điều kiện sống về vật chất và tinh thần của con người qua việc sản xuất ra của cải vật chất, cải tiến quan hệ xã hội, nâng cao chất lượng học vấn phổ thông. Trên thực tế, chính sách cho phát triển kinh tế - xã hội thường được ưu tiên hàng đầu trong hệ thống các chính sách dân tộc ở Việt Nam.

Tính bền vững của phát triển tộc người chủ yếu được xem xét qua mối quan hệ giữa phát triển kinh tế - xã hội đối với bảo tồn, phát huy văn hóa để phát triển bền vững. Bản chất của việc này là tìm kiếm các giải pháp giải quyết các mục tiêu của chính sách và hiệu quả mang lại, cả trên phương diện lý luận và thực tiễn.

4. Kết luận và khuyến nghị

Có thể nói, ở một tương lai không xa, nếu không có những biện pháp cụ thể đối với vấn đề nâng cao số lượng, chất lượng dân số và bảo tồn văn hóa của các DTTS rất ít người, nguy cơ suy thoái đến mức tiêu vong là hoàn toàn có thể xảy ra. Đây không chỉ là một tổn thất cho tính đa dạng tộc người, đa dạng văn hóa của thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, mà hơn hết, là một thiệt hại không thể bù đắp cho chính người dân của các tộc người này. Vấn đề càng trở nên quan trọng và cấp bách hơn bởi Việt Nam đã tham gia Công ước Bảo vệ và phát huy sự đa dạng của các biểu đạt văn hóa (năm 2007), trong đó cam kết về trách nhiệm bảo vệ và phát huy sự đa dạng các biểu đạt văn hóa phong phú của cộng đồng các dân tộc trên lãnh thổ đất nước.

Các DTTS rất ít người chủ yếu sống ở địa bàn vùng sâu, vùng xa, cũng là vùng nhạy cảm về an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội. Đời sống thiếu thốn và các nguy cơ đe dọa đối với sự tồn tại lâu dài của của tộc người tạo cơ hội cho các lực lượng thù địch lợi dụng để xuyên tạc, phủ nhận những thành quả trong chính sách dân tộc của Việt Nam. Điều đó cũng có nghĩa rằng sự quan tâm giải quyết thỏa đáng những vấn đề thực tiễn đang xảy đến đối với các DTTS rất ít người sẽ đem lại hiệu quả chính trị là nâng cao lòng tự hào, tự tôn dân tộc, chống lại những âm mưu phá hoại, chia rẽ, gây mất ổn định và đoàn kết dân tộc.

Trong bối cảnh mà việc bảo tồn và phát triển các DTTS rất ít người ở Việt Nam đang được Nhà nước và xã hội rất quan tâm, sự ra đời của một số chính sách riêng cho các DTTS rất ít người đã bước đầu đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn. Nhưng, có lẽ do mới triển khai, hoặc triển khai theo từng giai đoạn, thiếu tính đồng bộ nên các chính sách này chưa để lại ấn tượng sâu sắc trong cộng đồng và dư luận xã hội. Những thảo luận từ các cuộc hội thảo khoa học, trên phương tiện thông tin đại chúng, cho thấy, quá trình xây dựng chính sách còn thiếu những giải pháp toàn diện, thiếu lộ trình có tính chiến lược theo hướng phát triển bền vững và việc áp dụng thiếu linh hoạt với từng tộc người. Cho nên, trong thời điểm hiện tại, việc đánh giá một cách khoa học và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả của chính sách bảo tồn và phát triển các DTTS rất ít người là hết sức cần thiết và cấp bách; góp phần đảm bảo cho sự nghiệp phát triển các DTTS ở Việt Nam nói chungq




1.    Ngân hàng Thế giới, Khởi đầu tốt, nhưng chưa phải đã hoàn thành: Thành tựu ấn tượng của Việt Nam trong giảm nghèo và những thách thức mới, Hà Nội, 2012, tr.5, 20 - 23.

2.Tổng cục Thống kê, Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, Nxb Thống kê, 2020.

[3] Xem Nguyễn Ngọc Thanh, Ghi chép dân tộc học về người Rục ở Quảng Bình, Tạp chí Dân tộc học, số 4, 1991, tr.67.

-   Nguyễn Ngọc Thanh, “Một lời kêu cứu từ thực trạng người Rục”, trong: Tính đa đạng của Văn hóa Việt Nam những tiếp cận về sự bảo tồn, UNESCO - Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn quốc gia, Hà Nội, 2002, tr.143.

-   Bế Viết Đẳng (Chủ biên), Các dân tộc thiểu số trong sự phát triển kinh tế, xã hội ở miền núi, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1996, tr.180 - 181.

-   Lê Duy Đại, “Đặc điểm dân số các dân tộc thiểu số ở Việt Nam”, in trong, Các dân tộc thiểu số Việt Nam thế kỷ XX, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 417-434.

-   Đặng Nghiêm Vạn, Cộng đồng quốc gia dân tộc Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia Tp. Hồ Chí Minh, Tp. Hồ Chí Minh, 2003, tr.364.

 4. Ủy ban Dân tộc, Tờ trình số 12/TTr-UBND về “Phê duyệt đề án Hỗ trợ phát triển kinh tế, xã hội các dân tộc thiểu số rất ít người giai đoạn 2016 - 2025”, Hà Nội, 2015.

 5.     Ủy ban Dân tộc, Tổng quan thực trạng kinh tế - xã hội của 53 dân tộc thiểu số, Hà Nội, 2017, tr.58 -59.

6. Ủy ban Dân tộc, Tổng quan thực trạng kinh tế - xã hội của 53 dân tộc thiểu số, Hà Nội, 2017, tr.58-59.

7.Ủy ban Dân tộc - UNDP, “Nghiên cứu thực trạng nguồn nhân lực vùng dân tộc thiểu số và đề xuất các giải pháp phát triển nguồn nhân lực vùng dân tộc và miền núi”, Dự án: Tăng cường năng lực cho Ủy ban Dân tộc xây dựng thực hiện và giám sát chính sách dân tộc, VIE02/001-SEDEMA & EMPCD, 2010.

8. Ủy ban Dân tộc (2015), Tờ trình số 12/TTr-UBND về “Phê duyệt đề án Hỗ trợ phát triển kinh tế, xã hội các dân tộc thiểu số rất ít người giai đoạn 2016 - 2025”, Hà Nội, 2015.

 9.    Đặng Nghiêm Vạn, “Bảo vệ và phát triển đặc điểm dân tộc trong văn hóa Việt Nam”, Tạp chí Dân tộc học, số 4 (52),1986, tr.37.