Thứ Sáu, 30 tháng 10, 2020

BẢO TỒN VĂN HÓA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ RẤT ÍT NGƯỜI THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA - Nguyễn Ngọc Thanh, Tạp chí Văn hóa học, số 3 (43), 2019.

 

                                             

      1.Mở đầu

Việt Nam là một quốc gia - dân tộc đa tộc người, trong đó có 53 dân tộc thiểu số (DTTS). Sự đa dạng về thành phần dân tộc và văn hóa là một đặc trưng của Việt Nam so với nhiều quốc gia khác. Tuy nhiên, đa dạng dân tộc và các đặc điểm văn hóa cũng đặt ra những thách thức nhất định cho công cuộc phát triển cộng đồng các dân tộc ở nước ta, nhất là sự chênh lệch về nhịp độ phát triển kinh tế - xã hội giữa các dân tộc, các vùng miền. Bên cạnh các dân tộc cư trú ở những khu vực địa lý  tự nhiên thuận lợi về canh tác nông nghiệp và giao thương, trình độ sản xuất cao, kinh tế ổn định; lại có những dân tộc cư trú trên những địa bàn có điều kiện hết sức khắc nghiệt, đời sống bấp bênh, đói nghèo, bệnh tật. Hơn nữa, những điều tra quy mô lớn ở vùng dân tộc, miền núi cho thấy, tiến bộ đạt được trong xóa đói giảm nghèo không đồng đều giữa các vùng và giữa các nhóm dân tộc[1].

2. Một số thách thức trong bảo tồn văn hóa các DTTS rất ít người

    Trong 53 DTTS ở Việt Nam, có16 dân tộc được xếp vào nhóm dân số rất ít người (dưới 10.000 người). Đó là các dân tộc: Rơ-măm, Ơ-đu, Brâu, Pu Péo, Si La, Ngái, Cống, Bố Y, Cơ Lao, Mảng, Lô Lô, Lự, Chứt, Pà Thẻn, La Ha, La Hủ, với dân số là 55.081 người, địa bàn cư trú chủ yếu miền núi 11 tỉnh: Hà Giang, Cao Bằng, Điện Biên, Lai Châu, Sơn La, Lào Cai, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Quảng Bình, Nghệ An, Kon Tum[2]. Các dân tộc này có số phận lịch sử khác nhau, một số dân tộc được hình thành tại chỗ hoặc di cư đến Việt Nam từ rất lâu đời; một số dân tộc mới định cư ở Việt Nam trong những thế kỷ gần đây, cũng có dân tộc chỉ xuất hiện duy nhất ở Việt Nam; trong khi số còn lại có không ít những đồng tộc ở các nước láng giềng... Quá trình tộc người gắn với các yếu tố lịch sử và địa lý tự nhiên khiến cho các dân tộc rất ít người có trình độ phát triển chênh lệch nhau, nhưng nhìn chung là thấp hơn hẳn so với các tộc người dân số đông, định cư lâu đời ở những khu vực thuận lợi cho phát triển và giao lưu (Thái, Tày, Mường, Chăm, Khơ-me...). Sự chênh lệch này không đơn thuần chỉ là khoảng cách về đời sống mà còn lệ thuộc về kinh tế, chính trị lẫn văn hoá, xã hội vào những dân tộc đông dân hơn (chẳng hạn, người La Ha, La Hủ, Cống, Si La... xưa kia bị lệ thuộc, làm nô lệ cho những chúa đất và các chức dịch người Thái; người Bố Y lệ thuộc hệ thống quản lý do người Tày, hay người Hmông, người Dao chi phối)... Điều này đã góp phần kìm hãm sự vươn lên và khẳng định mình của các dân tộc rất ít người một thời gian dài trong lịch sử, đồng thời để lại những hệ quả (về văn hóa, ngôn ngữ…) tác động không nhỏ đến sự vận động, phát triển của các dân tộc này trong hiện tại và tương lai.

    Trên con đường hội nhập vào mặt bằng phát triển chung của các địa phương, vùng miền và quốc gia, các DTTS rất ít người đang đứng trước nhiều vấn đề cần giải quyết để từng bước hòa nhập và giảm khoảng cách phát triển với mặt bằng chung của quốc gia.

Có thể thấy rằng, phần lớn các DTTS rất ít người đã và đang phân bố ở những địa bàn xa xôi, hẻo lánh, địa hình hiểm trở, cách xa đô thị, cách xa đồng bằng... Trước thập niên 1950 của thế kỷ XX, có những dân tộc trong số này còn ở tình trạng biệt lập, khép kín, ít cơ hội tiếp xúc với xã hội bên ngoài. Cá biệt có nhóm người Rục, Arem, Mã Liềng (nhóm địa phương của dân tộc Chứt) ở miền núi phía tây Quảng Bình sống hoàn toàn cô lập, chỉ biết săn bắt hái lượm, lấy hang đá làm nhà và bị “nguyên thủy” hóa[3].

Ngày nay, khoảng cách địa lý và khó khăn về giao thông đi lại vẫn là một trở lực rất lớn đối với các dân tộc này trong việc giao lưu học hỏi cũng như việc thụ hưởng lợi ích từ những chính sách, chương trình phát triển quốc gia (không kể đến người Ngái vốn có trình độ phát triển tương đối cao, lại cư trú ở những vùng thuận lợi cho giao lưu hơn), đa số cư dân các DTTS rất ít người phải đối mặt với tình trạng đói nghèo, thất học, chăm sóc sức khỏe hạn chế và điều kiện sinh hoạt không đảm bảo, dễ bị ảnh hưởng bởi thảm họa thiên tai (lũ quét, lũ ống, cháy rừng…). Báo cáo kết quả điều tra thực trạng kinh tế - xã hội 53 DTTS năm 2015 của Ủy ban Dân tộc cho biết:

- Nhóm DTTS rất ít người có tỷ lệ hộ nghèo rất cao. Có những dân tộc tỷ lệ hộ nghèo lên đến trên 70%, như La Hủ, Mảng và Chứt.

- Khoảng 55,3% dân số nhóm DTTS rất ít người từ 15 tuổi trở lên biết đọc, biết viết; tức là gần non nửa dân số thuộc diện mù chữ.

- Lực lượng lao động có trình độ ở các DTTS rất ít người vẫn còn ít ỏi, đặc biệt là 4 dân tộc La Hủ, Rơ-măm, Mảng và Brâu tỷ lệ lao động đã qua đào tạo chỉ dưới 2,0%.

- Khoảng cách đặc biệt xa từ nhà đến các cơ sở y tế là một thực trạng ở nhiều DTTS rất ít người. Ở người La Ha, La Hủ, Chứt, Mảng, Cống bệnh viện cách nhà từ 32,6 đến 48 km, người Rơ-măm và Ơ-đu bệnh viện cách nhà từ 60,1 đến 72 km.

- Về điều kiện sinh hoạt, 13/16 DTTS rất ít người tỷ lệ hộ có nhà kiên cố dưới mức trung bình của 53 DTTS là 14,5%; 10/16 DTTS rất ít người, tỷ lệ hộ sử dụng nguồn nước hợp vệ sinh dưới mức trung bình, chiếm 73,3%. Hiện tại, một số dân tộc như Ơ-đu, Rơ-măm, Si La, Lự và Brâu, lưới điện quốc gia đã bao phủ gần như toàn bộ thôn bản (tỷ lệ hộ dùng điện lưới từ 99% đến 100%), thì vẫn còn những dân tộc có tỷ lệ dùng điện lưới dưới 80%; trong đó, đặc biệt là dân tộc Mảng, La Hủ và Lô Lô, dưới 50,0% hộ có điện sinh hoạt[4].

Hệ thống chính trị cơ sở ở vùng DTTS rất ít người cũng còn nhiều bất cập, chậm được kiện toàn và củng cố, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa. Cán bộ cơ sở vừa thiếu vừa yếu, nhất là cán bộ người dân tộc; các điều kiện cơ sở vật chất, các chế độ đãi ngộ cần thiết để hoạt động chưa đảm bảo. Một số cán bộ cơ sở không biết chữ hoặc chỉ đạt trình độ Tiểu học, đa phần chưa qua đào tạo chuyên môn và quản lý Nhà nước.

Về quản lý xã hội, các DTTS rất ít người là những thành phần chịu ảnh hưởng mạnh của chính sách đất đai liên quan đến bảo vệ rừng và hoạt động tái định cư phục vụ cho các dự án thủy điện. Việc bố trí lại lực lượng lao động và di dịch dân cư làm tăng quá trình xen cư mạnh mẽ giữa họ và các dân tộc khác, dẫn đến những quan hệ mới nảy sinh cần được nhận thức và xử lý đúng đắn.

 Trong bối cảnh quá trình phát triển và tăng cường giao lưu, hội nhập đã và đang tác động mạnh mẽ đến đời sống vùng DTTS miền núi, những điều kiện kể trên nhìn chung khiến cho khả năng tự bảo tồn, phát huy văn hóa truyền thống của nhóm DTTS rất ít người bị hạn chế.

 Hiện tượng mai một và mất dần bản sắc văn hóa (pha tạp, biến đổi, biến thái văn hóa…) ở các DTTS rất ít người đang ngày càng diễn ra theo nhiều chiều cạnh khác nhau. Việc chú ý bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp còn lơi lỏng nên xu hướng của thanh niên hiện nay là hướng vào cái mới, cái hiện đại mà quên đi những gì tổ tiên để lại.

Kết quả điều tra thực trạng kinh tế - xã hội của 53 DTTS đã cung cấp dữ liệu so sánh hữu ích cho việc làm rõ sự mai một và mất dần bản sắc văn hóa truyền thống của 16 tộc người có dân số ít. Theo đó, điển hình đáng lo ngại nhất của việc không biết tiếng mẹ đẻ, người Ơ-đu chỉ còn  27,7% số người nói được ngôn ngữ của dân tộc mình, người Cơ Lao (45,5%), Ngái (50,8%), La Chí (64,4%) và La Ha (67,3%). Đặc biệt có 5 dân tộc tỷ lệ người biết đến bài hát truyền thống, điệu múa và sử dụng nhạc cụ truyền thống dưới 30%, thấp nhất là người Ngái (8,49%) và Ơ-đu (10,55%)[5].

Sự thay đổi dễ nhận thấy trong văn hóa vật chất của các DTTS rất ít người qua trang phục và nhà ở. Hiện nay, phần lớn trẻ và nam giới đều mặc âu phục. Phụ nữ vẫn mặc theo truyền thống nhưng không phải là những chiếc váy do chính bàn tay họ tự dệt mà thay bằng các loại vải bán ở thị trường hoặc những chiếc váy may sẵn du nhập từ Trung Quốc. Nhà ở trình tường, mái lợp ngói âm dương, tường rào bằng đá một đặc trưng của các tộc người vùng biên giới phía Bắc cũng đang dần thay thế bằng nhà xây theo kiến trúc của các tộc người bên kia biên giới

Có thể nói, từ ngôn ngữ, các vật dụng của cuộc sống hàng ngày, đến kiến trúc nhà ở, các lễ nghi trong đời sống xã hội (hôn nhân, tang ma, thờ cúng...) mang đậm nét bản sắc truyền thống và khác biệt của từng tộc người ít còn được duy trì, thay vào đó là nét văn hóa của nhóm đa số. Hệ luỵ từ xu hướng này sẽ để lại những hậu quả khó lường, nó không đơn thuần chỉ là mai một bản sắc văn hoá truyền thống tộc người, mà kết hợp với các tác động kinh tế - xã hội khác có thể dẫn đến không còn sự hiện diện của một số tộc người thiểu số trong tương lai[6].

        Dân số và phát triển ở các DTTS rất ít người cũng là một vấn đề đáng phải suy nghĩ, 5 dân tộc Si La, Pu Péo, Rơ-măm, Brâu, Ơ-đu có dân số dưới 1.000 người, chủ yếu sống ở một làng và thuộc diện cần phải bảo tồn đặc biệt. Trong đó,  hai dân tộc Pu Péo và Si La dân số giảm đi đáng kể giữa hai cuộc Tổng điều tra dân số và nhà ở gần đây nhất, năm dân tộc từ 1.000 đến dưới 5.000 là Lô Lô, Mảng, Cơ Lao, Bố Y, Cống tuy có nguy cơ thấp hơn nhưng tốc độ tăng dân số cũng rất chậm[7]. Nhiều ý kiến cho rằng, các DTTS rất ít người đang đứng trước nguy cơ suy thoái giống nòi; nguyên nhân là vì nạn tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống, ở 16 DTTS rất ít người, tỷ lệ tảo hôn là 8,8%o (trung bình 53 dân tộc là 6,5%o), tỷ lệ hôn nhân cận huyết thống là 41,3% (trung bình 53 dân tộc là 21,0%), tập quán sinh đẻ lạc hậu, tỷ lệ suy dinh dưỡng cao... làm tuổi thọ của họ thấp hơn rất nhiều so với mặt bằng chung của cả nước[8].  

    Các DTTS rất ít người chủ yếu sống ở địa bàn vùng sâu, vùng xa, cũng là vùng nhạy cảm về an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội. Đời sống thiếu đầy đủ và các nguy cơ đe dọa đối với sự tồn tại lâu dài của của tộc người tạo cơ hội cho các lực lượng thù địch lợi dụng để xuyên tạc, phủ nhận những thành quả trong chính sách dân tộc của Việt Nam. Điều đó cũng có nghĩa rằng sự quan tâm giải quyết thỏa đáng những vấn đề thực tiễn đang xảy đến đối với các DTTS rất ít người sẽ đem lại hiệu quả chính trị là nâng cao lòng tự hào, tự tôn dân tộc, chống lại những âm mưu phá hoại, chia rẽ, gây mất ổn định và đoàn kết dân tộc.

    3. Chính sách bảo tồn văn hóa và phát triển các tộc người có dân số rất ít người

Từ giữa thế kỷ XX đến nay, chính sách dân tộc của Việt Nam đã không ngừng hoàn thiện. Đảng và Nhà nước ta đã từng bước xây dựng khung chính sách dân tộc được đánh giá là tiến bộ cả về quan điểm lẫn hành động, đồng thời cũng phù hợp với đa số các diễn ngôn quốc tế liên quan đến vấn đề dân tộc trong một quốc gia đa dân tộc. Với việc đặt ra và tuân thủ 3 nguyên tắc “bình đẳng”, “đoàn kết”, “tương trợ”, chính sách dân tộc luôn được quan tâm, chú trọng nhằm thiết lập sự bình đẳng và hòa nhập phát triển, củng cố, tăng cường sự đoàn kết thống nhất của cộng đồng các dân tộc. Nhiều chính sách, giải pháp của Chính phủ nhằm hỗ trợ nâng cao đời sống các DTTS trên cả nước đã được triển khai và gặt hái được nhiều thành tựu đáng kể. Chương trình 135, 134, 30 A, Chương trình hỗ trợ nhà ở cho các hộ nghèo, Chương trình 5 triệu hécta rừng... đã có tác dụng đưa các DTTS - bao gồm cả các dân tộc rất ít người - từng bước hòa nhập vào sự phát triển chung của đất nước.

Nhận thức về hoàn cảnh đặc biệt và những nguy cơ đối với các DTTS rất ít người, thời gian gần đây, Đảng và Nhà nước đã có những động thái cụ thể đối với các tộc người này. Bên cạnh một số điều được quy định trong Hiến pháp, Nghị quyết, Nghị định liên quan đến chính sách dân tộc và công tác dân tộc, vấn đề DTTS rất ít người đã được giải quyết qua một số Đề án, Dự án cụ thể được ban hành theo các Quyết định của Thủ tướng Chính phủ hoặc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Cụ thể, 5 dân tộc có dân số dưới 1.000 người là Si La, Pu Péo, Rơ-măm, Brâu, Ơ-đu được đưa vào danh sách cần quan tâm đặc biệt. Từ năm 2005, các chương trình hỗ trợ phát triển 5 dân tộc này đã được thực hiện bên cạnh các chương trình hỗ trợ giảm nghèo toàn quốc khác. Trong những năm tiếp theo, Chính phủ phê duyệt nhiều đề án, dự án quan trọng khác như Đề án “Phát triển giáo dục đối với các dân tộc rất ít người giai đoạn 2010 - 2015” (2010); Đề án “Bảo tồn, phát triển văn hóa các DTTS Việt Nam đến năm 2020” (2011) và Dự án “Bảo tồn khẩn cấp và hỗ trợ, tăng cường năng lực bảo tồn, phát triển văn hóa các dân tộc, bài trừ hủ tục ở vùng đồng bào DTTS” (2013); Đề án “Phát triển kinh tế - xã hội vùng các dân tộc: Mảng, La Hủ, Cống, Cờ Lao” (2011); gần đây nhất là Đề án “Hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội các DTTS rất ít người giai đoạn 2016 - 2025” (2016).

Theo quan điểm của Đảng và Nhà nước ta, chính sách nhất định phải được các tộc người thụ hưởng, hướng tới phát triển kinh tế, nâng cao đời sống người dân, nhưng phải gìn giữ được bản sắc văn hóa của họ. Điều này xuất phát từ nhận thức bảo tồn để phát triển và phát triển giúp cho việc bảo tồn tốt hơn, là sự cân bằng giữa bảo vệ các giá trị văn hóa dân tộc và sự hội nhập quốc tế. Theo đó, chính sách bảo tồn và phát triển các DTTS rất ít người ở Việt Nam nên được nghiên cứu xây dựng dựa trên 3 yếu tố có quan hệ chặt chẽ với nhau:

Thứ nhất,bảo tồn và phát triển dân số tộc người: lịch sử thường cho thấy, các cộng đồng tộc người có dân số rất ít người dù có giàu bản sắc như thế nào thì cũng có nguy cơ bị ảnh hưởng về văn hóa cao khi cư trú gần hoặc xen lẫn các cộng đồng có dân số đông hơn, đặc biệt là các nhóm bị xé lẻ, cư trú phân tán ra nhiều khu vực, có lịch sử di cư lâu dài. Trên thực tế,  việc kiểm soát dân số là một trong những lĩnh vực khó khăn nhất trong quản lý quốc gia. Phát triển dân số tộc người, vì vậy, gắn với các biện pháp khuyến khích sinh sản đối với các tộc người có dân số rất ít người. Trong một vài trường hợp, chính sách bảo tồn và phát triển dân số tộc người có thể chuyển trọng tâm từ khuyến khích sinh đẻ sang nâng cao chất lượng dân số. Chất lượng dân số ở đây thể hiện qua các yếu tố đầu vào như tỷ lệ suy dinh dưỡng, tỷ lệ tử vong, tuổi thọ trung bình, tần suất mắc các bệnh, đặc biệt là các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm. Các khía cạnh xã hội như nhu cầu và nhận thức của người dân, khả năng cung ứng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, vệ sinh - môi trường và đẩy lùi dịch bệnh, củng cố hệ thống y tế… hiệu quả sử dụng tri thức địa phương trong đối phó với bệnh tật, các thực hành văn hóa ảnh hưởng đến chất lượng dân số (phong tục sinh đẻ và nuôi con, tảo hôn và hôn nhân cận huyết) cần được xem xét, phân tích thấu đáo.

Thứ hai, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa tộc người: văn hóa là lĩnh vực rất rộng nên việc bảo tồn và phát huy cần tập trung vào những giá trị độc đáo của tộc người để tránh sự đầu tư dàn trải, không đúng trọng tâm. Hiệu quả của chính sách văn hóa được xem xét trước hết ở chỗ người thực thi chính sách làm cách nào để nhận diện được trọng tâm của sự bảo tồn, sau đó là việc đưa phát hiện đó gắn với chuỗi các hành động tiếp theo, bao gồm cả việc lôi kéo, thuyết phục cộng đồng cùng hành động. Ở đây, để nâng cao chất lượng đánh giá, có thể xem xét thêm về yếu tố chuyên môn và đạo đức, tâm huyết, trách nhiệm nghề nghiệp của người được giao nhiệm vụ đánh giá các giá trị văn hóa.

Cách đây hơn 30 năm, đã có lời cảnh báo về tình trạng nhiễu loạn văn hóa đương diễn ra ở nước ta với những mức độ khác nhau, ở những địa phương, tộc người khác nhau, được thể hiện ở tình hình chưa ổn định trong đời sống nói chung và văn hóa nói riêng, ở những ý kiến dường như khác nhau giữa các nhà nghiên cứu, và quần chúng nhân dân về những biểu hiện hành vi văn hóa trong xã hội, mặc dầu không ai không tán thành đường lối, phương châm xây dựng văn nhóa của Đảng[9]. Đến nay lời cảnh báo đó vẫn còn nguyên giá trị.

Nhìn chung, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa tộc người tại Việt Nam thường tiếp cận trên hai phương diện văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể. Văn hóa vật thể bao gồm: nhà cửa, trang phục, ẩm thực, nhạc cụ, phương tiện sản xuất, đi lại... Văn hóa phi vật thể gồm: phong tục, tập quán, tri thức địa phương, tổ chức xã hội, lễ hội, văn học, nghệ thuật dân gian. Ngôn ngữ thường được nhắc đến như một lĩnh vực đặc thù đã có chính sách riêng (mặc dù có thể xếp vào văn hóa phi vật thể). Vấn đề quan trọng hơn là phải xác định được các lĩnh vực, yếu tố cần ưu tiên bảo tồn khẩn cấp, đồng thời đánh giá được việc đáp ứng các nhu cầu và sự tham gia của người dân về bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của chính họ theo quan điểm phát triển bền vững về văn hóa. Vì vậy, đề xuất giải pháp cần chỉ rõ làm thế nào để người dân có thể tiếp cận các nguồn lực từ những chương trình văn hóa đã được thực thi, cũng như quyền của họ đối với các phương tiện hay môi trường nền tảng cho sự đảm bảo duy trì các yếu tố truyền thống (ví dụ như rừng, thiết chế nhà cộng đồng, luật tục).

Thứ ba, phát triển đời sống kinh tế - xã hội: là một trọng tâm quan trọng của mục tiêu phát triển tộc người. Đây là quá trình nâng cao điều kiện sống về vật chất và tinh thần của con người qua việc sản xuất ra của cải vật chất, cải tiến quan hệ xã hội, nâng cao chất lượng học vấn phổ thông. Trên thực tế, chính sách cho phát triển kinh tế - xã hội thường được ưu tiên hàng đầu trong hệ thống các chính sách dân tộc ở Việt Nam.

Tính bền vững của phát triển tộc người chủ yếu được xem xét qua mối quan hệ giữa phát triển kinh tế - xã hội đối với bảo tồn, phát huy văn hóa để phát triển bền vững. Bản chất của việc này là tìm kiếm các giải pháp giải quyết các mục tiêu của chính sách và hiệu quả mang lại, cả trên phương diện lý luận và thực tiễn.

4. Kết luận và khuyến nghị

Có thể nói, ở một tương lai không xa, nếu không có những biện pháp cụ thể đối với vấn đề nâng cao số lượng, chất lượng dân số và bảo tồn văn hóa của các DTTS rất ít người, nguy cơ suy thoái đến mức tiêu vong là hoàn toàn có thể xảy ra. Đây không chỉ là một tổn thất cho tính đa dạng tộc người, đa dạng văn hóa của thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, mà hơn hết, là một thiệt hại không thể bù đắp cho chính người dân của các tộc người này. Vấn đề càng trở nên quan trọng và cấp bách hơn bởi Việt Nam đã tham gia Công ước Bảo vệ và phát huy sự đa dạng của các biểu đạt văn hóa (năm 2007), trong đó cam kết về trách nhiệm bảo vệ và phát huy sự đa dạng các biểu đạt văn hóa phong phú của cộng đồng các dân tộc trên lãnh thổ đất nước.

Các DTTS rất ít người chủ yếu sống ở địa bàn vùng sâu, vùng xa, cũng là vùng nhạy cảm về an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội. Đời sống thiếu thốn và các nguy cơ đe dọa đối với sự tồn tại lâu dài của của tộc người tạo cơ hội cho các lực lượng thù địch lợi dụng để xuyên tạc, phủ nhận những thành quả trong chính sách dân tộc của Việt Nam. Điều đó cũng có nghĩa rằng sự quan tâm giải quyết thỏa đáng những vấn đề thực tiễn đang xảy đến đối với các DTTS rất ít người sẽ đem lại hiệu quả chính trị là nâng cao lòng tự hào, tự tôn dân tộc, chống lại những âm mưu phá hoại, chia rẽ, gây mất ổn định và đoàn kết dân tộc.

Trong bối cảnh mà việc bảo tồn và phát triển các DTTS rất ít người ở Việt Nam đang được Nhà nước và xã hội rất quan tâm, sự ra đời của một số chính sách riêng cho các DTTS rất ít người đã bước đầu đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn. Nhưng, có lẽ do mới triển khai, hoặc triển khai theo từng giai đoạn, thiếu tính đồng bộ nên các chính sách này chưa để lại ấn tượng sâu sắc trong cộng đồng và dư luận xã hội. Những thảo luận từ các cuộc hội thảo khoa học, trên phương tiện thông tin đại chúng, cho thấy, quá trình xây dựng chính sách còn thiếu những giải pháp toàn diện, thiếu lộ trình có tính chiến lược theo hướng phát triển bền vững và việc áp dụng thiếu linh hoạt với từng tộc người. Cho nên, trong thời điểm hiện tại, việc đánh giá một cách khoa học và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả của chính sách bảo tồn và phát triển các DTTS rất ít người là hết sức cần thiết và cấp bách; góp phần đảm bảo cho sự nghiệp phát triển các DTTS ở Việt Nam nói chungq




1.    Ngân hàng Thế giới, Khởi đầu tốt, nhưng chưa phải đã hoàn thành: Thành tựu ấn tượng của Việt Nam trong giảm nghèo và những thách thức mới, Hà Nội, 2012, tr.5, 20 - 23.

2.Tổng cục Thống kê, Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, Nxb Thống kê, 2020.

[3] Xem Nguyễn Ngọc Thanh, Ghi chép dân tộc học về người Rục ở Quảng Bình, Tạp chí Dân tộc học, số 4, 1991, tr.67.

-   Nguyễn Ngọc Thanh, “Một lời kêu cứu từ thực trạng người Rục”, trong: Tính đa đạng của Văn hóa Việt Nam những tiếp cận về sự bảo tồn, UNESCO - Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn quốc gia, Hà Nội, 2002, tr.143.

-   Bế Viết Đẳng (Chủ biên), Các dân tộc thiểu số trong sự phát triển kinh tế, xã hội ở miền núi, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1996, tr.180 - 181.

-   Lê Duy Đại, “Đặc điểm dân số các dân tộc thiểu số ở Việt Nam”, in trong, Các dân tộc thiểu số Việt Nam thế kỷ XX, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 417-434.

-   Đặng Nghiêm Vạn, Cộng đồng quốc gia dân tộc Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia Tp. Hồ Chí Minh, Tp. Hồ Chí Minh, 2003, tr.364.

 4. Ủy ban Dân tộc, Tờ trình số 12/TTr-UBND về “Phê duyệt đề án Hỗ trợ phát triển kinh tế, xã hội các dân tộc thiểu số rất ít người giai đoạn 2016 - 2025”, Hà Nội, 2015.

 5.     Ủy ban Dân tộc, Tổng quan thực trạng kinh tế - xã hội của 53 dân tộc thiểu số, Hà Nội, 2017, tr.58 -59.

6. Ủy ban Dân tộc, Tổng quan thực trạng kinh tế - xã hội của 53 dân tộc thiểu số, Hà Nội, 2017, tr.58-59.

7.Ủy ban Dân tộc - UNDP, “Nghiên cứu thực trạng nguồn nhân lực vùng dân tộc thiểu số và đề xuất các giải pháp phát triển nguồn nhân lực vùng dân tộc và miền núi”, Dự án: Tăng cường năng lực cho Ủy ban Dân tộc xây dựng thực hiện và giám sát chính sách dân tộc, VIE02/001-SEDEMA & EMPCD, 2010.

8. Ủy ban Dân tộc (2015), Tờ trình số 12/TTr-UBND về “Phê duyệt đề án Hỗ trợ phát triển kinh tế, xã hội các dân tộc thiểu số rất ít người giai đoạn 2016 - 2025”, Hà Nội, 2015.

 9.    Đặng Nghiêm Vạn, “Bảo vệ và phát triển đặc điểm dân tộc trong văn hóa Việt Nam”, Tạp chí Dân tộc học, số 4 (52),1986, tr.37.

 

Thứ Hai, 28 tháng 9, 2020

BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY DI SẢN VĂN HÓA VẬT THỂ TỪ KINH NGHIỆM CỦA TỈNH QUẢNG NAM - Nguyễn Ngọc Thanh*

           1. Mở đầu

Quảng Nam giữa miền Trung Việt Nam, phía bắc giáp tỉnh Thừa Thiên - Huế và thành phố Đà Nẵng; phía nam giáp tỉnh Quảng NgãiKon Tum; phía tây giáp nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, phía đông là Biển Đông.

Quảng Nam là một vùng đất linh thiêng. Nơi đây là điểm hội tụ linh khí của non - nước, núi - sông, đồng bằng ven biển. Địa hình Quảng Nam nghiêng dần từ tây sang đông với nhiều dãy núi cao trên 2.000m như núi Ngọc Linh, núi Lum Heo ở phía tây, và dải đồng bằng ven biển ở phía đông… Quảng Nam có hệ thống sông ngòi phong phú với ba hệ thống sông chính: sông Thu Bồn, sông Tam Kỳ và sông Trường Giang cùng với rất nhiều hồ lớn: Phú Ninh, Khe Tân, Việt An, Phú Lộc… do đó đã tạo điều kiện thuận lợi cho Quảng Nam có cơ hội giao lưu, phát triển  kinh tế - xã hội.

Nằm ở trung điểm đất nước theo trục Bắc - Nam, kết hợp với những cửa biển lớn, Quảng Nam đã từng có một thương cảng sầm uất, thu hút đông đảo thương gia từ trong và ngoài nước đến buôn bán. Đô thị cổ Hội An trở thành nơi “hội thủy, hội nhân và hội tụ văn hóa” (cả xưa và nay) của người Việt, người Hoa, người Nhật Bản và người châu Âu (Pháp, Bồ Đào Nha…) từ thế kỷ XVI. Những nét văn hóa tiêu biểu nhất của các cộng đồng dân tộc chung sống tại Hội An đã được hòa trộn một cách tinh tế, hài hòa trong những dấu tích còn lại. Hội An cũng là một trong số rất ít những đô thị cổ tại Việt Nam được bảo tồn tương đối nguyên vẹn với một tổng thể kiến trúc phong phú, đa dạng: nhà cổ, hội quán, chùa, cầu… Quảng Nam cũng là vùng đất nằm trong khu vực văn hóa Sa Huỳnh thời tiền sử. Vương quốc Chămpa của người Chăm tồn tại trong suốt 17 thế kỷ (từ thế kỷ II đến thế kỷ XIX) đã để lại cho Quảng Nam Thánh địa Mỹ Sơn với hơn 70 ngôi đền tháp mang nhiều phong cách kiến trúc điêu khắc tiêu biểu cho từng giai đoạn lịch sử của Vương quốc Chămpa[1].  Các di tích này không chỉ có giá trị về mặt văn hóa, nghệ thuật mà còn có ý nghĩa lịch sử quan trọng, thể hiện sự phát triển lâu đời của một vùng văn hóa Đàng Trong.

n hóa xã hội                            cứu, giai đoạn 2016 - 2020

Theo thống năm 2018, toàn tỉnh có 2 di sản thế giới, 64 di tích quốc gia, trong đó có 4 di tích Quốc gia gia đặc biệt, và 335 di tích cấp tỉnh… Trong thời kỳ Đổi mới, Quảng Nam đã rất quan tâm, tạo điều kiện để bảo vệ, phát huy các di sản văn hóa vật chất của địa phương. Phần lớn các di tích đã được đầu tư chống xuống cấp, phục hồi, tôn tạo ở các mức độ khác nhau theo Luật Di sản văn hóa...  Nhiều giải pháp về cơ chế, chính sách đã được ban hành bằng các văn bản quy phạm pháp luật như Nghị quyết số 161//2015/NQ-HĐND, ngày 07/07/2015 của Hội đồng nhân dân tỉnh về đầu tư tu bổ di tích Quốc gia và di tích cấp tỉnh giai đoạn 2016 - 2020[2]; Quyết định số 08/2019/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh, ngày 02/5/2019 ban hành Quy chế về quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh trên địa bàn tỉnh Quảng Nam[3].

Quy chế gồm 6 Chương, 28 Điều quy định hoạt động quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh đã được xếp hạng và công trình xây dựng, địa điểm, cảnh quan thiên nhiên, khu vực thiên nhiên trong danh mục kiểm kê di tích thuộc thẩm quyền quản lý của UBND tỉnh Quảng Nam; trách nhiệm và mối quan hệ phối hợp của các cấp, các ngành, các địa phương, chủ sở hữu di tích và Nhân dân trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị các di tích trên địa bàn tỉnh Quảng Nam. 

2. Các vấn đề và xu hướng chung trong bảo tồn và phát huy di sản                                                         văn hóa vật thể ở Việt Nam

2.1. Giải quyết hài hòa mâu thuẫn giữa bảo tồn và phát triển

Trong bối cảnh đô thị hóa, kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, việc bảo tồn và phát huy những giá trị di sản ngày càng trở nên cấp bách. Một khi không nhận thức được giá trị di sản và pháp luật về di sản, người ta có xu hướng đặt phát triển thành ưu tiên hàng đầu, dẫn đến các hiện tượng tiêu cực như bỏ mặc, xâm lấn hoặc phá hoại di sản. Mặc dù vậy, có một sự thật hiển nhiên là kinh tế đi lên lại tạo nguồn lực để tu bổ di sản. Trong quá trình phát triển du lịch, các nguồn thu thông qua dịch vụ du lịch như nhà hàng, khách sạn, vận tải hành khách, buôn bán hàng thủ công mỹ nghệ, vui chơi giải trí… tăng lên hàng năm đã trở thành động lực quan trọng để đầu tư cải thiện tình trạng di sản. Sự phát triển du lịch tại các điểm di sản văn hóa và thiên nhiên góp phần thúc đẩy các ngành giao thông, hàng không hoạt động mạnh mẽ hơn. Mặt khác, khai thác khía cạnh giáo dục của di sản sẽ giúp phát triển nhân cách con người và đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng, từ đó phục vụ trực tiếp cho phát triển.

Khi nói đến phát triển di sản tức là không chỉ nói đến phát huy giá trị di sản hay phương thức khai thác di sản, mà ở một cấp độ cao hơn chính là sự phát triển luôn được đặt trong một bối cảnh phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, không phải lúc nào người ta cũng giải quyết được một cách hài hòa giữa bảo tồn di sản văn hóa vật chất với phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là trong bối cảnh đô thị hóa, công nghiệp hóa và toàn cầu hóa. Thực tiễn đã chứng minh các di sản văn hóa vật chất bị đe dọa nhiều nhất khi nằm trong một khu dân cư đô thị đang phát triển với sự bùng nổ của các dự án xây dựng hạ tầng, giao thông...

Việt Nam là một quốc gia điển hình ở Đông Nam Á, nơi các cộng đồng địa phương sống trong phần lớn các khu di sản thế giới, di tích cấp Quốc gia và cấp Quốc gia đặc biệt… Nhưng do nhu cầu cuộc sống bức thiết, nhiều ngôi nhà xuống cấp, cũ nát; trong mỗi gia đình các thành viên tăng thêm, cần có thêm chỗ ở; chưa kể nhiều gia đình làm nông nghiệp còn phải có diện tích chăn nuôi, phơi phóng... Cũng chính vì lý do này mà mấy năm trước, người dân làng Đường Lâm (Hà Nội) và phố cổ Đồng Văn (Hà Giang) từng viết đơn xin “trả” danh hiệu Di tích kiến trúc, nghệ thuật Quốc gia.

Với những trường hợp này hay với bất cứ một di sản vật thể nào khác, phương pháp tiếp cận cần thiết nhất là phải gắn bảo tồn với phát triển và ngược lại. Di sản phải là một phần của cuộc sống đương đại. Phải chuyển phương pháp tiếp cận từ thụ động sang chủ động, từ gìn giữ, duy trì, bảo tồn và trùng tu công trình di sản sang tôn tạo, cải tạo và tái phát triển. Cách tiếp cận này nhằm nâng cấp và thay đổi tình trạng của di sản phù hợp với nhu cầu phát triển chung nhằm đưa những công trình lịch sử trở lại với đời sống. Ngoài ra, nếu việc bảo tồn di sản không được coi trọng ngang bằng hoặc hơn việc khai thác di sản thì sẽ dẫn đến tình trạng phá hoại di sản, làm cho di sản bị xuống cấp, mai một nhanh chóng. Có trường hợp, di sản văn hóa, thiên nhiên quốc gia bị xâm lấn, tàn phá (như trường hợp xây cầu trên núi ở di sản Tràng An năm 2018; lăng mộ bị san phẳng để làm bãi đỗ xe ở Huế năm 2017; xây nhà văn hóa xâm hại di tích Yên Tử năm 2015…) do các địa phương chỉ coi trọng sự tăng trưởng kinh tế chứ ít quan tâm đến việc giữ gìn cảnh quan môi trường và các di sản văn hóa.

Để giải quyết các mâu thuẫn này, điều quan trọng nhất là phải có sự quy hoạch khoa học, khách quan và công tác quản lý chặt chẽ. Việc lập các đề án trùng tu di sản, cũng như các dự án phát triển hạ tầng chỉ có thể thực hiện được yêu cầu bảo tồn và phát huy giá trị di sản khi có sự tham vấn của các cơ quan, các nhà khoa học thuộc cả hai lĩnh vực: di sản và phát triển. Việc đẩy mạnh nghiên cứu, thực thi pháp luật và chính sách quốc gia, quốc tế cũng là một công cụ hữu ích để bảo đảm phát triển kinh tế - xã hội mà vẫn bảo tồn và phát huy được giá trị di sản. Khi triển khai các dự án phát triển trong khu vực có di tích lịch sử - văn hóa hoặc biết dưới lòng đất có di tích khảo cổ học, chủ dự án, ngay từ đầu phải phối hợp với cơ quan quản lý nhà nước về di sản văn hóa tổ chức việc bảo tồn di tích hoặc triển khai các hoạt động khai quật khảo cổ học trước khi triển khai dự án.

2.2. Nâng cao trách nhiệm và hiệu quả phối hợp trong công tác quản lý di sản

Trong thời gian qua, các chính sách của Đảng, Nhà nước đã cho thấy tác dụng tích cực trong bảo tồn và phát huy di sản văn hóa, ngăn chặn tình trạng xuống cấp của di tích, sự mất mát của các hiện vật có giá trị khoa học. Bằng chính sách xếp hạng của Nhà nước, nhiều di tích có giá trị tiêu biểu về lịch sử, văn hóa và khoa học dưới sự bảo vệ của pháp luật. Chương trình mục tiêu quốc gia tu bổ tôn tạo di tích ngày càng có hiệu quả, nhiều di tích lịch sử đã được cứu thoát khỏi tình trạng xuống cấp nghiêm trọng[4]. Cùng với đó là việc từng bước hoàn chỉnh hệ thống luật về di sản và các quyết định có liên quan; việc tổ chức sắp xếp lại bộ máy quản lý nhà nước cho phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được giao; huy động được sự tham gia của toàn xã hội đối với hoạt động giữ gìn, phát huy giá trị di sản văn hóa...

Bài học ở nhiều nơi cho thấy ngay khi các cơ quan chức năng nới lỏng việc quản lý di sản là các biểu hiện xâm phạm sẽ lại nổi lên, dẫn đến nhiều di tích tiếp tục bị xâm phạm, lấn chiếm, cổ vật bị đánh cắp, làm hư hại, thất thoát khá nặng nề. Việc thiếu một định hướng chuẩn mực về quản lý văn hóa dẫn đến không ít hiện tượng phản cảm trong bảo tồn và phát huy giá trị của các di tích lịch sử - văn hóa như việc cung tiến đồ thờ cúng, bày đặt linh vật, trang trí tùy tiện. Những sai phạm này làm suy kiệt, làm nghèo đi giá trị di tích, đến phát triển bền vững trong hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị di sản. Mặt khác, Việt Nam hiện đang tiến hành quản lý văn hóa trong cơ chế kinh tế thị trường. Sự chồng chéo về cơ chế quản lý và phân công, phân cấp nhiệm vụ đã tạo nên những mâu thuẫn, gây bất lợi cho di sản cả trong công tác bảo tồn di tích và phát triển du lịch. Một trong những chủ đề được quan tâm gần đây là sự hạn chế về thẩm quyền (cụ thể là thiếu chức năng của các cơ quan quản lý nhà nước) của các ban quản lý di sản tại địa phương, ngoài ra còn là cơ chế quản lý các di sản (đặc biệt là di sản thế giới) chưa thống nhất. Để kết nối hoạt động của các cơ quan công quyền với các cơ quan quản lý di sản, cần thiết phải xác định trách nhiệm quản lý thuộc về lãnh đạo các cấp địa phương, thay đổi cơ chế quản lý nhà nước để tăng cường kết nối và trao truyền cho các ban quản lý di sản.

2.3. Yếu tố con người phải được đưa lên hàng đầu trong công tác bảo vệ di sản

Không thể bảo tồn và phát huy di sản một cách hiệu quả nếu những người có quyền hạn không nhận thức đúng về tầm quan trọng hay giá trị của di sản. Trong những thập niên trước năm 1990, có những định kiến tồn tại trong bộ máy quản lý hành chính về việc tại sao lại phải bảo tồn di sản của “bọn vua chúa bán nước”. Để Cố đô Huế được công nhận là di sản là cả một quá trình vận động lâu dài nhằm thay đổi nhận thức rằng đây là di sản văn hóa của dân tộc chứ không phải chỉ là di sản của một triều đình phong kiến. Tương tự như vậy, có những di tích gắn với chế độ ngụy quyền một thời bị bỏ mặc, song cuối cùng được thừa nhận như những di sản đóng vai trò là chứng tích tội ác. Việc phá bỏ các rào cản về quan điểm chính trị về giá trị di sản ở trung ương lẫn địa phương có thể đem đến sự thay đổi toàn diện về tình trạng của di sản đó.

Vấn đề thứ hai là trình độ kỹ thuật, năng lực chuyên môn của những người thực hiện công tác bảo vệ, gìn giữ di sản. Công tác di sản là cả một loại khoa học tổng hợp giữa các lĩnh vực tự nhiên và xã hội - nhân văn, không đơn giản chỉ là những hành động có thể quy về một trật tự thống nhất mà mọi cá nhân qua một số lớp đào tạo nghiệp vụ đều thực hiện được. Trong bối cảnh hiện nay, đội ngũ cán bộ chuyên môn ở một số cơ quan quản lý di sản còn thiếu về số lượng và yếu về chất lượng. Việc học tập chuyên môn, ngoại ngữ của một bộ phận cán bộ, nhân viên thiếu bài bản, chỉ nhằm phục vụ những lợi ích trước mắt, không mang tính chuyên sâu, tính thực tế để đáp ứng những đòi hỏi chuyên môn cao của ngành. Bởi vậy mà ở không ít nơi, trong khi tiến hành bảo tồn, trùng tu, người ta đã không cẩn thận, thiếu trách nhiệm, thiếu năng lực chuyên môn, làm biến dạng, mất giá trị di tích.

Vấn đề trên đặt ra mục tiêu lớn cho xây dựng và phát triển nguồn nhân lực cho bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh là xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý và chuyên môn có tính chuyên nghiệp cao, một đội ngũ thợ lành nghề được trang bị và nắm vững những quy định của Luật Di sản văn hóa và những văn bản quy phạm pháp luật có liên quan, cũng như những quy định của Công ước và Hiến chương Liên hợp quốc về Di sản thế giới; được trang bị các phương pháp khoa học về bảo tồn truyền thống và hiện đại; có năng lực phối hợp và liên kết với các chuyên gia trên nhiều lĩnh vực khác nhau, cả khoa học tự nhiên và khoa học xã hội nhân văn để quản lý và triển khai trên thực tế các hoạt động quy hoạch, thiết kế, bảo quản, tu bổ, tôn tạo, phục hồi di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh.

Đối với các khu di tích và danh lam thắng cảnh hiện có dân cư sinh sống, thì phải coi cộng đồng dân cư là đối tượng cần được đào tạo, là nguồn nhân lực cho phát triển bền vững thông qua việc hướng dẫn cho họ nhận biết được giá trị của di sản; đào tạo người có tay nghề, có kiến thức và kinh nghiệm thực tiễn tham gia vào công tác bảo tồn, hướng dẫn viên du lịch… góp phần cải thiện và nâng cao đời sống cộng đồng để cộng đồng tham gia có trách nhiệm vào công tác bảo vệ và phát huy giá trị di sản.

Bên cạnh đó, cần phải hợp tác chặt chẽ với các trường đại học, viện nghiên cứu, các tổ chức của Hàn Quốc, Mỹ, Nhật Bản và Ba Lan để học hỏi và tiếp nhận kỹ thuật sản xuất vật liệu, trùng tu di tích nhằm đảm bảo công tác bảo tồn có quy trình chuẩn, qua đó nâng cao giá trị của di sản.

2.4. Xã hội hóa rộng rãi việc bảo tồn và phát huy di sản

Do điều kiện khách quan của đất nước, do các di sản văn hóa vật thể trên cả nước quá lớn, nên kinh phí hằng năm của Nhà nước dành cho di sản ở các địa phương vẫn còn ít so với nhu cầu thực tế, dẫn đến tình trạng hàng nghìn di tích trên cả nước chưa được tu bổ. Một bộ phận lớn các di tích lịch sử - văn hóa được đầu tư mới chỉ đáp ứng được mục tiêu gia cố, chống xuống cấp cục bộ chứ chưa đủ khả năng thực hiện các dự án tổng thể nhằm tạo điều kiện cần và đủ để di tích tồn tại lâu dài.

            Có nhiều di sản vật thể vẫn được người dân tự giác chú ý bảo vệ, đóng góp cho tôn tạo và phát triển. Đối với những trường hợp này, việc phát huy quyền làm chủ của người dân địa phương song song với sự quản lý của Nhà nước là hết sức quan trọng. Bởi vì con người là trung tâm của quá trình phát triển, di sản văn hóa phải được gắn với con người và cộng đồng cư dân địa phương (với tư cách là chủ thể sáng tạo văn hóa và chủ sở hữu tài sản văn hóa) thì mới có giá trị thực tiễn và lành mạnh. Sự tùy tiện, không khoa học, làm hộ, làm thay, thiếu sự tham gia của cộng đồng là một bài học đắt giá cho mọi trường hợp, nhất là với công tác bảo tồn và phát huy các di sản trong phát triển. Sự đồng thuận trong từng hành động của người dân ngày càng được xem là yêu cầu hàng đầu khi khai thác di sản. Tuy nhiên, không phải lúc nào việc thực hiện ý kiến của các “mạnh thường quân” cũng đem lại hệ quả tốt. Xã hội hóa mà không gắn với quản lý nhà nước chặt chẽ thì sẽ dẫn đến tình trạng lộn xộn, nhập nhằng, thậm chí phô trương phản cảm.

Đối với các di sản vật thể không còn “sống” trong cộng đồng, chẳng hạn như những phế tích, di chỉ, những địa điểm khảo cổ dưới nước..., việc huy động các nguồn lực xã hội hóa sẽ yêu cầu ở một cấp độ cao hơn. Xu hướng đa dạng hóa các nguồn vốn đã cứu nguy cho không ít di sản bị lãng quên, bao gồm cả các nguồn vốn có yếu tố quốc tế. Để làm được điều này, nhất thiết phải nhắc đến vai trò tiên phong của cơ quan quản lý di sản ở địa phương trong việc kêu gọi các nhà đầu tư, cũng như việc tạo điều kiện cho các tổ chức bảo tồn và phát triển được tiếp cận di sản, bao gồm cả những di sản nằm ở khu vực nhạy cảm.

Công tác xã hội hóa không chỉ đơn giản là khuyến khích đa dạng hóa ngân quỹ dành cho di sản, mà quan trọng hơn cả, đó là khuyến khích sự tham gia của cộng đồng. Bất cập lớn nhất hiện nay cho việc bảo tồn và phát huy di sản văn hóa vật thể là nhận thức và sự tham gia của cộng đồng chưa thực sự đồng đều, vững chắc và có lợi cho sự nghiệp bảo tồn và phát huy giá trị di sản. Tại các địa phương có di sản văn hóa và thiên nhiên, về mặt hình thức, phần lớn mọi người đều vui mừng khi địa phương mình có di sản văn hóa, ý thức trách nhiệm của cộng đồng với việc bảo vệ di sản được nâng lên. Nhưng trên thực tế, những nhận thức này chưa tương xứng với nhu cầu bảo vệ di sản. Nhiều người quan tâm đến việc được hưởng lợi gì từ di sản hơn là trách nhiệm và nghĩa vụ của mình đối với việc thực thi luật bảo vệ di sản. Việc bảo vệ di sản do đó chủ yếu vẫn là những biện pháp hành chính của các cơ quan quản lý.

Có một vấn đề đang đặt ra là Nhà nước phải sớm công nhận quyền sở hữu/quyền sử dụng của cộng đồng hoặc người trụ trì các đình, chùa, miếu hoặc các công trình văn hóa công cộng khác, để từ đó làm cơ sở pháp lý cho việc quản lý các công trình này, không để tình trạng tranh chấp đang xảy ra trong nội bộ cộng đồng có chiều hướng gia tăng đối với diện tích đất thuộc các công trình văn hóa.

3. Kinh nghiệm trong bảo tồn và phát huy di sản văn hóa vật thể nhìn từ trường hợp hai Di sản thế giới ở Quảng Nam

3.1. Đô thị cổ Hội An

Câu chuyện về bảo tồn, phát huy giá trị nhà cổ ở các làng cổ là một chủ đề “nóng” đã nhiều lần thu hút sự quan tâm của dư luận. Đây là một loại hình đặc biệt của di sản văn hóa vật thể, khi di tích gắn chặt với đời sống dân sinh. Việc giải quyết kịp thời và hài hòa giữa việc bảo tồn và đáp ứng nhu cầu cuộc sống của người dân là yêu cầu hết sức bức thiết, là trọng tâm của trục vấn đề xoay quanh di tích làng cổ. Vụ việc dân làng Đường Lâm, thị xã Sơn Tây (Hà Nội) và phố cổ Đồng Văn (Hà Giang) gần đây xin trả lại danh hiệu di sản là một ví dụ điển hình cho những rắc rối liên quan đến mâu thuẫn giữa mong muốn xây dựng, sửa chữa nhà ở của người dân với những quy định về bảo tồn di sản. Trước Đường Lâm, Hội An (Quảng Nam) cũng phải đối mặt với thách thức tương tự, song từ thực tế qua nhiều năm qua ở đây đã chứng minh rằng hoàn toàn có thể giải quyết được vấn đề này một cách hiệu quả. Nguyên tắc bảo tồn tối đa tính chân xác và nguyên vẹn của các di tích văn hóa đã được tuân thủ một cách chặt chẽ hết mức có thể ở khu di tích nổi tiếng nay.

Đô thị - thương cảng Hội An là kết quả của hơn 2.000 năm lịch sử khai phá, điểm gặp gỡ giao lưu giữa các nền văn hóa Chămpa, Việt, Hoa, Nhật, Ấn Độ, Đông Nam Á và phương Tây… Bên cạnh giá trị văn hóa phi vật thể độc đáo, đây còn là nơi tập trung mật độ di tích dày đặc với hơn 1.360 di tích các loại, chủ yếu là di tích kiến trúc nghệ thuật. Được công nhận Di tích lịch sử văn hóa quốc gia năm 1985, nhưng tới đầu những năm 1990, Hội An mới chỉ có những khu phố cổ xập xệ, gần 1.000 ngôi nhà cổ và hơn 200 đình, chùa, miếu mạo có tuổi thọ hàng trăm năm đang ở trong tình cảnh xuống cấp, có thể sập bất cứ lúc nào. Trong những ngôi nhà cổ, tình trạng phổ biến là các gia đình 4 - 5 thế hệ sống chen chúc, chật chội với điều kiện sinh hoạt rất khó khăn. Chưa kể là vào mùa mưa hàng năm, ngay sau khi bão dứt, cư dân phố cổ cùng quần thể kiến trúc nhà cổ lại đối mặt với lũ lụt do nước mưa từ thượng nguồn đổ về, nước biển dâng cao và gần đây là sự xả lũ đồng loạt của các thủy điện.

Đứng trước khó khăn kể trên, ngay Hội An được công nhận là di sản, chính quyền thành phố Hội An (trước đây là thị xã) đã xây dựng “Quy chế bảo tồn di tích Khu phố cổ Hội An” và tổ chức Hội thảo khoa học quốc gia về Hội An vào tháng 7-1985. Tiếp theo là sự ra đời của Ban Quản lý di tích và Dịch vụ du lịch Hội An vào tháng 2-1986. Hệ thống quản lý di sản ở phố cổ Hội An được xem là một trong những hệ thống hoạt động có hiệu quả nhất ở Việt Nam hiện nay, bao gồm những quy trình được xác định rõ ràng, phân công công việc và trách nhiệm cụ thể cho từng cá nhân, đơn vị trong việc quản lý và bảo tồn từng di tích cụ thể. Mỗi đơn vị có nhiệm vụ và trách nhiệm khác nhau như ban hành chính sách và thực hiện chính sách. Nền tảng quản lý nhà nước chi tiết, đồng bộ và được điều chỉnh gần với thực tiễn của địa phương là cơ sở hỗ trợ có hiệu quả cho hoạt động khai thác di sản văn hóa gắn với phát triển du lịch ở địa phương nhiều năm qua. Nếu không nhờ có hệ thống quản lý nhà nước khá đồng bộ này, Hội An khó có thể trở thành một điểm đến du lịch văn hóa đạt tầm quốc tế như vị trí hiện nay[5].

Ở Hội An, tùy thuộc vào từng loại di tích và hiện trạng của chúng mà các di tích cũng đòi hỏi các biện pháp can thiệp bảo tồn khác nhau. Các di tích ở Hội An được phân thành 5 loại dựa theo giá trị văn hóa và mức độ nguyên trạng của chúng. Toàn bộ khu phố cổ Hội An được chia thành hai khu vực: Bất kỳ một sự thay đổi, di chuyển hoặc cải tạo nào tiến hành trong khu vực 1 đều bị cấm và khi các di tích này được sử dụng, phục hồi hoặc sửa chữa cần phải tuyệt đối đảm bảo tính chân xác của di tích trên bốn phương diện: kỹ thuật, thiết kế, nguyên liệu và cấu trúc. Ở khu vực 2, mỗi sửa chữa, cải tạo, phục hồi và cả việc lên kế hoạch phải được kiểm soát nhằm đảm bảo hoặc tăng giá trị và vẻ đẹp của tổng thể khu di sản[6]. Đối với những công trình kiến trúc cổ thuộc hạng đặc biệt và hạng 1 như Chùa Cầu, Nhà cổ số 80 trên đường Trần Phú, Nhà cổ Tấn Ký, nhà cổ Phùng Hưng số 4 đường Nguyễn Thị Minh Khai, mọi sự cải tạo hay phục hồi đều chỉ được tiến hành khi thực sự cần thiết và khi tiến hành đòi hỏi phải đảm bảo tính chân xác của từng chi tiết, phần và cả tổng thể cấu trúc di tích.

Thời gian trước đây, nhiều gia đình ở Hội An do áp lực cuộc sống đã bất chấp lệnh cấm, tự ý lén lút phá bỏ nhà cổ và xây mới, khiến chính quyền buộc phải ra lệnh cưỡng chế trong sự oán trách của người dân. Sau khi nghiên cứu tình hình, quán triệt tư tưởng, những người có trách nhiệm đã xác định biến Hội An là địa phương đi đầu trong việc thúc đẩy phát triển bền vững hài hòa lợi ích giữa con người với việc giữ gìn và phát huy di sản, ưu tiên số một là phải đảm bảo lợi ích cho người dân, để họ có thể hưởng lợi từ di sản. Với khoảng 90% ngôi nhà thuộc sở hữu tư nhân, Hội An có thể coi là một di sản tư nhân, do nhiều cá nhân, hộ gia đình, tổ chức làm chủ. Nhận thức được sự thay đổi sở hữu là quy luật tất yếu của quá trình phát triển, chính quyền đã tạo điều kiện cho những người chủ mới (qua chuyển nhượng, mua bán) trở thành những người chủ thực sự, gắn bó với Hội An, bằng cách cho họ được thu lợi một phần (trực tiếp hoặc gián tiếp) từ tiền bán vé và các hoạt động kinh doanh như nhà hàng, quán cà phê...; đồng thời hỗ trợ kinh phí trùng tu nhà cửa ưu tiên theo nguyên gốc. Chính quyền ban hành chính sách về mức hỗ trợ kinh phí trùng tu từ 30 - 75%, thậm chí 100%  tùy theo mức độ hư hại của di tích và tùy theo vị trí của ngôi nhà. Kinh phí hỗ trợ trùng tu và giãn dân lấy phần lớn từ việc bán vé tham quan, có sự hỗ trợ một phần của ngân sách Trung ương và địa phương.

Ngoài ra, việc khuyến khích người dân kinh doanh các mặt hàng phục vụ du lịch một cách bài bản và có chọn lọc đã giúp người dân không chỉ đổi đời mà còn thay đổi nhận thức. Một khi thấy được giá trị di sản do ông bà, tổ tiên để lại, người dân phố cổ không chỉ tự hào mà còn từng bước tìm cách khai thác giá trị di sản một cách tích cực hơn, đồng thời ra sức bảo vệ, giữ gìn di sản. Để tạo thu nhập cho những hộ dân sống trong ngõ, hẻm - nơi người dân không có nhiều nguồn thu từ du lịch, chính quyền Hội An đã đặt những đối tượng này ở mức ưu tiên cao trong hoạt động trùng tu di tích, đồng thời có những cơ chế ưu đãi, giúp họ có mặt bằng kinh doanh ở chợ đêm…

Trước tình trạng thiên tai đã và đang đe dọa cuộc sống của người dân và gây ảnh hưởng xấu đến các công trình hiện là di sản văn hóa, từng có ý kiến bảo vệ Hội An khỏi nước lũ với giải pháp đắp một con đê thấp bao quanh đô thị cổ. Tuy nhiên, bởi giải pháp này có nguy cơ ảnh hưởng xấu đến cảnh quan của thành phố di sản, chưa kể kinh phí xây dựng quá lớn, bởi vậy mà cơ quan chức năng của thành phố và chủ nhân của những di tích đã giải quyết vấn đề theo hướng thuận theo tự nhiên, chấp nhận chung sống với lụt lội thay vì chỉ đắp đê ngăn không cho nước tràn vào. Ngay từ đầu mùa mưa, cán bộ của Trung tâm Bảo tồn di sản Hội An đã phối hợp với lực lượng cộng tác viên khảo sát từng ngôi nhà, từng ngõ ngách, đưa vào danh sách những trường hợp cần hỗ trợ khi bão, lụt và giúp đỡ họ về kỹ thuật, cây chống, nhân lực. Chính vì vậy mà Hội An đã trải qua không ít cơn bão lớn nhưng những ngôi nhà cổ vẫn được an toàn, chỉ bị xô lệch đi vài hàng ngói.

Vấn đề quản lý di sản “sống” như Hội An chịu sự chi phối của nhiều yếu tố pháp luật có liên quan như Luật di sản, Luật đất đai, Luật cư trú, Luật xây dựng... Do đó, Hội An phải đặt ra những quy chế trong từng lĩnh vực cụ thể để người dân tham gia, như Quy chế về quản lý, tu bổ, sử dụng khu phố cổ; Quy chế về trật tự kinh doanh; Quy chế về biển hiệu quảng cáo; Quy chế về tham quan, du lịch; Quy chế về hoạt động du lịch trên sông; Quy chế về các cơ chế phối hợp quản lý di sản. Các quy chế này chi phối cơ chế quản lý, sử dụng di tích; quy định việc buôn bán, làm du lịch trong di tích; quy định các hạng mục sửa chữa, thời gian cho phép sửa chữa các di tích, nhất là những di tích hạng 1, hạng 2 và cả hạng đặc biệt[7]... Để gắn kết chặt chẽ và bền vững giữa bảo tồn, phát huy giá trị di sản với du lịch, Hội An đã quyết định hướng đi “Phát triển du lịch Hội An bền vững trên nền tảng gắn kết văn hoá và sinh thái” từ những thực tiễn trong quá trình bảo tồn và phát huy giá trị di sản gắn với du lịch, như: Phát triển du lịch dựa trên cơ sở bảo tồn văn hoá và môi trường; Phát triển sản phẩm du lịch gắn với di sản; Xây dựng sản phẩm du lịch văn hoá gắn với văn hoá du lịch; Quy hoạch hướng tới sự phát triển bền vững; Khoanh vùng di sản và giảm tốc quá trình đô thị hoá trong khu vực di sản; Giảm thiểu tốc độ thương mại hoá và tăng cường thông tin để nâng cao nhìn nhận ý thức của người dân và du khách…

Để đưa các quy chế đi vào cuộc sống, nhiều năm qua, chính quyền Hội An đã ban hành cẩm nang chi tiết từng nội dung, lĩnh vực, đặc biệt là chi tiết từng ngôi nhà cổ thuộc hạng nào, khu vực nào, khi muốn sửa thì được sửa những gì, hạng mục nào; thời gian sửa chữa; thời gian cấp phép bao lâu... để các chủ di tích căn cứ thực hiện. Trong khi đó, ở góc độ quản lý nhà nước, quy chế quy định cụ thể các cơ chế phối hợp giữa các cơ quan quản lý với cơ quan chuyên môn, với các cấp chính quyền, các đội quy tắc đô thị. Trên cơ sở đó, có những biện pháp giải quyết phù hợp với lợi ích người dân, đảm bảo nguyên tắc công bằng và bảo tồn di tích. Các quy trình phải tiến hành trong việc cải tạo, sửa chữa di tích thoạt đầu có vẻ rất phức tạp, tốn nhiều thời gian, công sức của cả chủ sở hữu di tích và các nhà quản lý. Nhưng trên thực tế, đây lại là những quy trình hoàn toàn mang lại lợi ích lâu dài cho sự an toàn của di tích và lợi ích của người dân sống trong di tích đó.

3.2. Thánh địa Mỹ Sơn

Khu di tích Thánh địa Mỹ Sơn nằm trong một thung lũng bao quanh bởi đồi núi, thuộc địa phận xã Duy Phú, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam. Nơi đây từng là trung tâm tôn giáo và chính trị của Vương quốc Chămpa, Mỹ Sơn phản ánh hơn 10 thế kỷ phát triển (từ thế kỷ IV đến thế kỷ XIV) cả về chính trị và tinh thần của con người dựa trên nền tảng Ấn Độ giáo và các ảnh hưởng tác động trong khu vực. Kết tinh của quá trình này được thể hiện qua các di tích kiến trúc và điêu khắc mang vẻ đẹp thẩm mỹ đặc biệt, phản ánh sự giao thoa đa dạng giữa các nền văn hóa.

Khu di tích Mỹ Sơn đã bị chìm trong lãng quên hàng thế kỷ, đến năm 1885 mới được phát hiện như một phế tích. Công tác nghiên cứu khu di tích này được đẩy mạnh từ năm 1898 và bắt đầu triển khai việc bảo tồn, trùng tu từ năm 1937. Di tích dễ bị tổn thương do phải đối mặt với nhiều hiểm hoạ thiên nhiên và các sự kiện do cả con người lẫn tự nhiên gây nên (như nạn trộm cắp, sự xâm lấn của cây cỏ dại, sự can thiệp của người Pháp, rồi đến bom đạn thời chiến tranh chống Mỹ...). Đến tháng 4-1979, khu di tích tháp cổ Chămpa ở Mỹ Sơn đã được công nhận là Di tích kiến trúc nghệ thuật quốc gia. Đến năm 1980, Tiểu ban phục hồi di tích Chămpa ở Mỹ Sơn được thành lập, nằm trong chương trình hợp tác văn hóa Việt Nam-Ba Lan. Sau khoảng 10 năm trùng tu, khôi phục, trung tâm kiến trúc bậc nhất của nghệ thuật Chămpa đã phục hồi phần nào dáng vẻ ban đầu của nó. Nhận thức rõ về tầm quan trọng của công tác quản lý, bảo tồn, phát huy giá trị của di tích, chính quyền địa phương đã thành lập Ban Quản lý Di tích Mỹ Sơn vào tháng 12-1995 (nay là Ban Quản lý Di tích và Du lịch Mỹ Sơn). Với những giá trị hết sức đặc sắc và tiêu biểu của mình, tháng 12-1999, khu di tích Mỹ Sơn đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới.

Qua 20 năm được UNESCO công nhận Di sản Thế giới, Mỹ Sơn đã đạt được rất nhiều thành công từ trùng tu, bảo tồn, phát triển du lịch đến bảo vệ môi trường, nâng cao ý thức người dân. Thành công lớn nhất chính là việc thúc đẩy hiệu quả công tác bảo tồn di sản gắn với hợp tác quốc tế sâu rộng. Văn phòng UNESCO tại Việt Nam là đầu mối hết sức quan trọng để thúc đẩy hợp tác trong bảo tồn di sản. Bên cạnh đó, Mỹ Sơn đã nhận được sự giúp đỡ của nhiều quốcgia (Italia, Hàn Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản...) và các tổ chức quốc tế (Lerici, ILO, MAG, JICA...). Có những dự án lớn được viện trợ nguồn kinh phí lên đến vài triệu USD, như dự án Nhà trưng bày Mỹ Sơn (Nhật Bản) và dự án Trùng tu bảo tồn nhóm tháp G (Italia). Ngoài ra, việc trao đổi, hợp tác, học hỏi, thăm viếng lẫn nhau thường xuyên giữa ban quản lý các di sản như Cố đô Huế (Thừa Thiên - Huế), Phong Nha - Kẻ Bàng (Quảng Bình), di tích Cát Tiên (Lâm Đồng), Di sản văn hóa thế giới Vatphou (Lào)... cũng đã giúp Mỹ Sơn dễ dàng tiếp cận những nguồn thông tin, kiến thức mới trong công tác bảo tồn di sản của khu vực và thế giới.

Thành công lớn thứ hai của Mỹ Sơn là đột phá trong việc ứng dụng các kết quả nghiên cứu khoa học một cách bài bản, đúng nguyên tắc vào công tác bảo tồn và đã được thực tế chấp nhận, dù trước đó, đây là vấn đề rất khó khăn. Sau nhiều cuộc họp tại Hà Nội và Mỹ Sơn, một loạt các nguyên tắc trong trùng tu di tích được thống nhất vào năm 2004. Các nguyên tắc này tuy mới chỉ được áp dụng cho nhóm tháp G, nhưng có khả năng ứng dụng trong công tác bảo tồn đối với tất cả các di tích trong khu thánh địa Mỹ Sơn cũng như với toàn bộ các di tích Chămpa được xây bằng gạch mà không dùng vữa để kết nối các khớp gạch bên ngoài. Các nguyên tắc chính được thông qua nhấn mạnh vào sự tôn trọng tính xác thực của chất liệu nguyên gốc và chỉ thực hiện tái tạo khi thực sự cần thiết; không sử dụng tùy tiện các vật liệu mới khác với chất liệu gốc (như thép, bê tông, vữa xi măng, nhựa đúc...) để tránh sự không tương thích, luôn lưu ý việc sử dụng các chất liệu bền về tính phù hợp với điều kiện đặc biệt của khí hậu nhiệt đới; phục dựng lại các hạng mục được phát hiện có vấn đề kết cấu không chắc chắn và không bền vững thông qua phương pháp tái dựng nhưng đảm bảo tối đa tính nguyên vẹn của hiện trạng của các di tích[8]. Các hoạt động khai quật được tiến hành một cách thận trọng và được tư liệu hoá cẩn thận, đảm bảo tôn trọng các tài sản và giá trị tôn giáo và chính trị của nền văn hoá Chămpa cổ. Các nguyên tắc quốc tế trong lĩnh vực khảo cổ học cũng được tuân thủ nghiêm túc[9].

Một kết quả khác cũng hết sức quan trọng, đó là đào tạo nguồn nhân lực tại chỗ với những kỹ năng, kinh nghiệm đã được đúc kết qua thực tế, được tiếp cận thông tin, kiến thức mới trong công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản của khu vực và thế giới. Thực tiễn đã chứng minh yếu tố xây dựng năng lực đóng vai trò thiết yếu đối với tính bền vững trong việc trùng tu di tích Chăm, không chỉ ở Mỹ Sơn mà còn ở các tỉnh thành khác ở miền Trung Việt Nam. Nỗ lực xây dựng, nâng cao năng lực cán bộ và nhân viên kỹ thuật đã mang đến những thành tựu nổi bật trong lĩnh vực khai quật khảo cổ học, gia cố và trùng tu. Những kỹ năng này không chỉ được áp dụng cho các nhân viên kỹ thuật tại Mỹ Sơn và nhiều cơ quan ban ngành khác của tỉnh Quảng Nam, mà còn được truyền tải tới đội ngũ công nhân xuất thân là nông dân từ các làng lân cận Mỹ Sơn[10].

Từ thực tiễn công tác trùng tu, tôn tạo cho thấy rằng khó khăn nhất trong việc trùng tu các di tích kiến trúc là kỹ thuật xây tháp Chăm cho đến nay vẫn chứa đầy những bí ẩn. Việc chưa giải mã đầy đủ được công nghệ xây dựng, vật liệu và nguyên liệu để liên kết đã khiến hàng chục tỷ đồng đầu tư trùng tu bảo tồn phần di sản quan trọng này qua hàng chục năm chỉ đem lại kết quả rất ít ỏi, bất chấp sự nỗ lực của Nhà nước và các nhà tài trợ quốc tế[11]. Điều này đã khẳng định rõ yêu cầu tôn trọng kết quả nghiên cứu khoa học trước bất kỳ một hoạt động trùng tu nào. Phương án trùng tu là xuất phát từ tính chất bảo tồn phế tích kiến trúc khảo cổ học, nên công việc đầu tiên là khảo cổ; căn cứ kết quả đó mới có phương án trùng tu. Yêu cầu bảo tồn cao nhất với là giữ nguyên trạng, nếu đủ cơ sở thì mới trùng tu tái định vị, không làm lại những gì không xác định được. Nhưng quan trọng hơn là phải tạo một sự phân biệt để cho biết đâu là kiến trúc cổ, đâu là phần mới trùng tu.

Hiệu quả trùng tu, tôn tạo, khôi phục lại diện mạo di tích là điều kiện đẩy mạnh các hoạt động phát triển du lịch tại di sản. Để đưa lợi ích của phát huy giá trị di sản về với cộng đồng, chính quyền địa phương đã tuyên truyền, giáo dục giá trị di sản cho nhân dân, tạo việc làm cho người dân địa phương qua các dự án (như dự án Homestay Mỹ Sơn, Làng Du lịch cộng đồng Mỹ Sơn...). Từ năm 2003 - 2004, các cơ quan chức năng đã phối hợp đưa nội dung giáo dục giá trị di sản Mỹ Sơn vào các trường phổ thông ở địa phương, đầu tư nâng cấp hệ thống giao thông đến Mỹ Sơn nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc quản lý, bảo tồn và phát triển du lịch. Công tác quản lý bao gồm việc chú trọng đảm bảo an ninh trật tự, giữ gìn cảnh quan môi trường ngày xanh - sạch - đẹp... Nhờ đó, khu di tích Mỹ Sơn đã trở thành điểm du lịch nổi tiếng. Hằng năm, lượng khách  đến  với  di  sản  ngày  càng  tăng, năm 2017, khu đền tháp Mỹ Sơn đón 350 nghìn lượt khách tham quan, con số khá ấn tượng nếu so với khoảng 30 nghìn lượt khách đến khu đền tháp trong năm 1999[12]. Kinh phí thu được từ hoạt động du lịch đã góp phần quan trọng để trùng tu, bảo tồn di sản, phát triển kinh tế - xã  hội địa phương.

4. Kết luận

Di sản văn hóa là sức mạnh nội sinh tiềm tàng, thúc đẩy sự phát triển bền vững của quốc gia, dân tộc nói chung và các địa phương nói riêng. Bảo tồn di sản văn hóa, do vậy, không chỉ là nghĩa vụ mà còn là quyền lợi thiết thực của mỗi người. Nắm vững quy luật, tìm ra phương thức, hoạch định chiến lược, giải quyết những vấn đề đang nổi cộm, có hệ thống giải pháp, biện pháp cụ thể, hiệu quả… chính là những điều kiện cần và đủ để công tác, bảo tồn, phát huy di sản văn hóa có được bước phát triển mới mang tầm vĩ mô.

Từ kinh nghiệm chung của Việt Nam về bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa vật thể, ở Quảng Nam có thể nêu 6 yêu cầu quan trọng hiện nay như sau: Thứ nhất, khảo sát đúng thực trạng các di sản văn hóa, nhanh chóng hoàn thành quy hoạch tổng thể làm cơ sở cho các dự án bảo tồn tổng thể. Thứ hai, trung ương và địa phương cần có chính sách đầu tư kinh phí để nghiên cứu, trùng tu, tôn tạo và bảo vệ các di sản văn hóa. Thứ ba, cần có chính sách kêu gọi các nguồn đầu tư từ các nước, các tổ chức văn hóa quốc tế. Thứ tư, đẩy nhanh tiến trình xã hội hóa việc bảo tồn và phát huy di sản văn hóa, phải làm cho cán bộ và quần chúng hiểu rõ đây là tài sản quý giá của cả dân tộc, phải có thái độ trân trọng ý thức bảo tồn di sản. Thứ năm, phải thức tỉnh những tiềm năng kinh tế tiềm ẩn trong di sản thông qua kinh tế du lịch. Thứ sáu, tăng cường công tác giáo dục pháp luật và nâng cao kiến thức về di sản một cách rộng rãi.

Cần phải nhận thức rằng không chỉ là với từng loại hình cụ thể, ngay cả những trường hợp cụ thể của di sản văn hóa vật chất cũng cần phương pháp tiếp cận và ứng xử khác nhau cho mục tiêu bảo tồn và phát huy giá trị di sản. Nếu phân tích rõ sẽ thấy, Hội An có đặc điểm của một đô thị sống; còn Mỹ Sơn mang đặc điểm của một di tích phế tích của một quốc gia cổ. Mỗi di sản có những yêu cầu riêng, vì vậy công tác trùng tu, bảo vệ, khai thác cho phát triển phải phù hợp với đặc điểm thực tế của di sản và điều kiện của địa phương. Với một số trường hợp, có lẽ nên chấp nhận việc phục dựng một số hạng mục di tích nằm ngoài quy hoạch nguyên bản để có không gian văn hóa cho việc thực hành các nghi thức tín ngưỡng và lễ hội, nếu như điều đó sẽ đem lại lợi ích tổng thể cho cả văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể. Với một số trường hợp khác như các khu di tích khảo cổ tồn tại dưới dạng phế tích, với những giá trị tiềm ẩn mà chưa thể nhận diện được hết, thì nguyên tắc tổng quát là không nên có bất cứ sự can thiệp nào mà không có sự nghiên cứu cẩn thận từ trước. Đứng trên khía cạnh mỹ quan, tình trạng phế tích kiến trúc được bảo tồn trong điều kiện kỹ thuật ổn định, hài hòa với tự nhiên hoang dã cũng tạo ra nét hấp dẫn cho du lịch.

Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa vật thể trên địa bàn tỉnh Quảng Nam vẫn còn nhiều hạn chế, chưa tương xứng với bề dày lịch sử, nguồn di sản của tỉnh. Nhiều loại hình di sản ở vùng miền núi, vùng dân tộc thiểu số đang có nguy cơ bị mai một. Sự xuống cấp của một số di tích (nhất là trong các buôn/làng) vẫn đang ở mức báo động. Tình trạng lấn chiếm, vi phạm di tích - danh thắng chưa được khắc phục triệt để. Ở nơi này, nơi kia vẫn còn để xảy ra tình trạng làm sai lệch giá trị vốn có của di tích, bỏ di tích gốc để xây dựng công trình mới. Việc sưu tầm tầm các loại tài liệu, hiện vật quý hiếm chưa tương xứng với tiềm năng về điều kiện tự nhiên, xã hội của địa phương. Nạn đào tìm, trộm cắp cổ vật đó đây vẫn có. Điều kiện về cơ sở vật chất kỹ thuật, chất lượng cán bộ, các cơ chế chính sách trong lĩnh vực di sản chưa đáp ứng kịp thời. Công tác quảng bá hình ảnh di sản và gắn kết các di sản văn hóa với hoạt động du lịch, tham quan còn hạn chế…

Để có thể đưa công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa vật thể ở Quảng Nam lên tầm chiến lược, thực hiện một cách khoa học, đạt chuẩn quốc gia và quốc tế, đặc biệt là khai thác đầy đủ giá trị di sản văn hóa vào phát triển kinh tế - xã hội, trước hết cần phải có những nhận thức cần thiết về xu hướng, kinh nghiệm ứng xử với di sản điển hình ở Việt Nam. Năng lực bảo tồn và phát huy di sản của tỉnh chỉ có thể được nâng cao không chỉ qua những trải nghiệm ở địa phương, mà còn phải qua tăng cường giao lưu, trao đổi kinh nghiệm trong công tác quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị di sản, từ đó góp phần quảng bá tiềm năng văn hóa, thương mại và du lịch, liên kết phát triển du lịch di sản bền vững giữa các vùng miềnq



* Viết chung với Nguyễn Thanh Tùng, Văn hóa Quảng Nam động lực phát triển kinh tế - xã hội bền vững, Nxb Đà Nẵng, 2019.

[1].Nguyễn Ngọc Thanh (Chủ biên), Việt Nam những vùng địa linh nhân kiệt, Nxb Khoa học xã hội, Tập 2, Hà Nội 2014, tr.161.

[2].Hội đồng nhân dân tỉnh Quảng Nam, khóa VIII, kỳ họp thứ 14 (2015), Nghị quyết về đầu tư tu bổ di tích Quốc gia và di tích cấp tỉnh trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2016 - 2020, số 161//2015/ NQ - HĐND.

3.UBND tỉnh Quảng Nam (2019), Quy chế về quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh trên địa bàn tỉnh Quảng Nam, 2019.

[4].Đặng Thị Tuyết, “Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa ở Việt Nam hiện nay”, Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, số 4 (89), 2015, tr.99.

 [5] Nguyễn Thị Thu Hà, Quản lý di sản văn hóa và phát triển du lịch ở đô thị cổ Hội An, tỉnh Quảng Nam, Luận án Tiến sĩ Văn hóa học, Viện Văn hóa Nghệ thuật Quốc gia Việt Nam, Hà Nội, 2016, tr.69-73.

[6] Nguyễn Thị Thu Hà, Quản lý di sản văn hóa và phát triển du lịch ở đô thị cổ Hội An, tỉnh Quảng Nam, Tlđd, tr. 67.

 [7]http://dangcongsan.vn/tu-tuong-van-hoa/quan-ly-bao-ton-va-khai-thac-di-san-cau-chuyen-tu-hoi-an-495300.html 25/08/2018.

 [8] UNESCO, Bảo tồn Di sản Thế giới Mỹ Sơn (2003 - 2013): Báo cáo tổng kết dự án, Hà Nội, 2013, tr.32.

[9] UNESCO, Bảo tồn Di sản Thế giới Mỹ Sơn (2003 - 2013, Tlđd, tr.24.

 [10] UNESCO, Bảo tồn Di sản Thế giới Mỹ Sơn (2003 - 2013, Tlđd, tr.47.

[11] Trương Minh Dục (2005), “Vấn đề bảo tồn các di sản văn hóa Chăm pa hiện nay”, Tạp chí Dân tộc học, Số 1, tr.61.

 [12] http://baoquangnam.vn 12.4.2018.