Thứ Tư, 2 tháng 9, 2020

TRUYỀN THỐNG HIẾU HỌC Ở MỘT SỐ VÙNG QUÊ THÁI BÌNH*

 


          

Xưa nay, truyền thống hiếu học vẫn luôn là niềm tự hào của người Việt. Một trong những biểu hiện cụ thể của truyền thống đó là thái độ trọng thị, tôn vinh những người học hành đỗ đạt và sự phấn đấu không ngừng của nhiều cá nhân trong quá trình chinh phục các đỉnh cao tri thức. Quốc Tử Giám - trường đại học đầu tiên của Việt Nam từ lâu đã trở thành nơi vinh danh các vị khoa cử thành danh trong lịch sử khoa bảng. Người có học vấn cũng được đặt ở vị trí đầu tiên trong thang bậc nghề nghiệp xã hội: sĩ - nông - công - thương. Theo GS Trần Văn Giàu, “Sĩ bao gồm những người có học hoặc đã thi đỗ hoặc không thi đỗ, hoặc làm quan làm thầy hoặc không làm quan làm thầy mà ở ẩn ở thôn quê. Sĩ là những người được đào tạo theo đạo thánh hiền, là trí tuệ của xã hội, là quân tử. Đường kẻ sĩ lại là đường danh vọng sang giàu được người ta mơ ước, cho nên, sĩ đứng đầu tứ dân, được nhân dân kính trọng nhất trong số tứ dân”[1]. Kẻ sĩ ngoài gắn với học hành, còn bao hàm cả nhân cách, lối hành xử. Trong lịch sử, kẻ sĩ “Trị diệc tiến, loạn diệc thoái” là hiện tượng phổ biến. Tức là khi đất nước thịnh trị, khi có “vua sáng” thì tích cực ra giúp đời, còn khi đất nước rối ren, loạn lạc, khi “vua tối”, thì lui về ở ẩn để “độc thiện kỳ thân”, để giữ yên thân mình[2].

Cùng với việc đề cao giới "sĩ", các bậc tiên nho xưa cũng đặt ra tiêu chí ứng xử cho tầng lớp này - như một biểu tượng tinh thần tiêu biểu cho lí tưởng xã hội phong kiến: "Tiên thiên hạ chi ưu nhi ưu, hậu thiên hạ chi lạc nhi lạc" (Lo trước nỗi lo của thiên hạ, vui sau điều vui cả thiên hạ). Ngày nay, tầng lớp trí thức vẫn đóng vai trò hết sức quan trọng trong mọi lĩnh vực. Ở đây, chúng tôi bàn thêm về sĩ – kẻ sĩ, vai trò của tầng lớp “sĩ” trong xã hội, cũng không nằm ngoài mục đích tôn vinh truyền thống học tập của dân tộc. Gắn với đặc thù của từng thời đại, sự biểu hiện của truyền thống đó càng thêm phong phú.

                  1. Truyền thống hiếu học ở Thái Bình thời phong kiến

Ở các làng quê Việt Nam, từ bao đời nay, truyền thống hiếu học vẫn được các thế hệ duy trì và phát huy. Thái Bình vào thời Lý - Trần - Hồ (thế kỉ X đến đầu thế kỉ XIV) không có nhiều gương mặt trí thức đỗ đại khoa, do đây là vùng đất được hình thành muộn, lại thiếu vắng các đô thị trung tâm. Nhưng từ thời Lê sơ (thế kỉ XV) trở đi, “học phong ở Thái Bình đã thành mệnh mạch nổi trội hơn nhiều địa phương khác”, điều này được thể hiện qua con số 115 trí thức đỗ từ phó bảng đến trạng nguyên trong tổng số tri thức đại khoa Việt Nam. Sang thời Nguyễn, ngoài 15 người đỗ đại khoa, Thái Bình còn có gần 200 người đỗ cử nhân. Ở hầu hết các huyện của Thái Bình đều có văn từ, văn chỉ; phần lớn làng xã có văn chỉ và bia đá ghi chép về việc học hành[3].

Khảo sát hương ước cổ của các làng xã ở Thái Bình cho thấy có nhiều bản có quy định về việc học, trong đó, cách thức khuyến khích thường thấy nhất là dành ruộng học điền để chăm lo sự học. “Những người đến tuổi thành niên vẫn theo đuổi học hành thì đuợc miễn phu phen tạp dịch. Nhiều làng có hình thức trợ cấp giấy bút để giúp con em nhà nghèo theo học và hình thức phổ biến là xếp ngôi thứ cao trong vị thứ đình trung đối với người đỗ đạt, khen thưởng đối với người có công nuôi dưỡng…”. Cùng đó, mỗi làng đều có cách quy định riêng phù hợp với điều kiện địa phương nhằm thúc đẩy và duy trì sự hưng thịnh của học phong[4].

Nhìn chung, “các làng xã ở nông thôn Thái Bình trước Cách mạng tháng Tám - 1945 rất trọng tri thức, tôn trọng người có học và khuyến học bằng nhiều hình thức khác nhau..”, “ở nhiều làng, việc học được cả dân làng quan tâm, thể hiện tính xã hội hóa trong giáo dục như mở trường, mời thầy, dành tiền công trợ giúp con em nghèo học tập, thưởng tiền với người đỗ đạt”. “Hầu hết các hương ước đều khuyến học theo tinh thần học để mở mang sự hiểu biết để cho làng văn minh tiến bộ…”[5]. Dưới đây là trích dẫn một số quy định trong hương ước của các làng xưa ở Thái Bình:

Hương ước làng Ô Trình, tổng An Định, huyện Thụy Anh, tỉnh Thái Bình.

Việc học chính:

Điều 61: Nhân bất học bất tri lý, nên người ta phải có học thì trí khôn mới mở mang, tinh thần mới được linh sang rồi sau trở nên người tử tế. Làng ta sở tại trường sơ đẳng con trẻ đi học rất là thuận tiện. Vậy trong làng ai có con bé lên bảy tuổi đều phải cho đi học ít ra cũng phải đỗ bằng sơ học yếu lược trở lên, người nào còn có thể đi học được mà không cho đi học thì phạt vào phụ huynh 5 hào và kỳ lý hương hội cứ mỗi năm 2 kỳ xét sổ học sinh trong làng được bao nhiêu ghi vào sổ riêng, nếu người nào đã theo học được 5 năm mà không đỗ được bằng sơ học yếu lược thì dân cũng cho ngôi xã tự, xã chính gọi là nhiêu học còn người theo học lên các lớp trên thì dân miễn cho các phu đòi tạp dịch.[6]

Hương ước làng Phương Xá, tổng Phương Quan, huyện Đông Quan, Thái Bình:

Sự giáo dục:

Điều 135: Khi hội đồng mở trường ở làng, thì tiền phí tổn về nhà trường, làng sẽ lấy tiền công mà chi.

Điều 136: Làng đã có trường học thì trẻ con trong làng đều được vào học, không kể con đàn anh hay đàn em nhưng giấy bút và sách học phải mua lấy.

Điều 137: Lương thầy giáo mỗi năm bao nhiêu thì làng phải chịu.

Điều 138: Mỗi năm cứ đến 15 tháng Giêng thì hội đồng thi tiến ích cho học trò, sẽ lấy tiền công mà ban phần thưởng.

Điều 139: Làng lấy tiền công mua sách bút để phát cho con nhà nghèo, mà hội đồng xét thực không thể mua được.

Điều 140: Trong làng, trẻ con, trừ những người đi học, còn thì phải báo cho làng biết đàng ăn ở và phải tìm nghề nghiệp cho nó làm ăn.[7]

Những quy định về việc học cùng các hình thức khuyến học được nói đến trong các bản hương ước của các làng xã Thái Bình trước Cách mạng tháng Tám một mặt phản ánh thái độ trọng thị tri thức, tinh thần hiếu học của nhân dân thời đó; mặt khác, có những ứng xử hết sức nghiêm khắc trước các hành vi làm cản trở, ảnh hưởng đến việc học hành của con em, và đòi hỏi mỗi cá nhân, từ trẻ nhỏ đến người lớn đều phải có trách nhiệm, tinh thần cầu thị đối với việc rèn luyện, học tập để lập thân.

Những quy định này cũng tạo cơ sở cho việc xây dựng các hương ước từ sau Cách mạng tháng Tám đến nay, và là nguồn tư liệu quan trọng để phục vụ cho công cuộc xây dựng Nông thôn mới ở Thái Bình trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

                  2. Phát huy truyền thống hiếu học trong thời đại mới

Xã Nguyên Xá, huyện Đông Hưng cũng là một trong những vùng quê có tinh thần hiếu học, dù không phải là địa phương có nhiều nhà khoa bảng nổi danh. Từ xưa, trong dân gian đã truyền tụng câu “chơi với Nguyên Xá rất khó”, hàm ý người Nguyên Xá văn hay chữ tốt, giỏi kiện tụng. Ngày nay, trong mỗi gia đình Nguyên Xá, việc học tập của con em đều đặc biệt được đề cao. Truyền thống hiếu học trong cộng đồng đã lan rộng và được cụ thể hóa thành phong trào khuyến học trong từng gia đình, dòng họ tại địa phương.

Làng Nguyễn xưa kia (tức thôn Trần Phú, xã Nguyên Xá, huyện Đông Hưng) đã có ông Nghè Bá Dương. Theo truyện kể lại, ông Bá Dương vốn thuộc dòng họ nhỏ, nhà nghèo, không có vai vế trong làng, nên khi về làng, không được đón tiếp long trọng. Phẫn uất, ông ném bút nghiên xuống ao, quay trở lại đất Hà thành. Có lẽ hai câu thơ sau xuất phát từ câu chuyện này:

Bao giờ nghiên nổi bút chìm

Thì người làng Nguyễn mới tìm ra quan.

Hoạt động bình thơ văn của các cụ già làng Nguyễn xưa kia cũng khá sôi nổi. Ở làng còn có bia văn chỉ lưu danh những người đỗ đạt, nhưng do chiến tranh, bia văn chỉ nay chỉ còn lại một phần nhỏ.

Trước đây, do đời sống nghèo đói, lại gặp hoàn cảnh chiến tranh liên miên, nên nhiều người làng Nguyễn thất học, mù chữ; những người được học chữ chủ yếu là chữ Nho “Cả xã thời kì này chỉ có một người có bằng “bán tú tài Tây”, tương đương lớp 10 phổ thông ngày nay, dăm người có bằng trung học và cao đẳng tiểu học… Mãi đến năm 1927-1928, Nguyên Xá mới có một lớp do Tổng sư dạy”[8]. Sau Cách mạng tháng Tám thành công, tình trạng này mới được cải thiện.

Hiện nay, cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, mọi gia đình đều đầu tư cho con cái học hành. Bởi thực tế cho thấy, con đường học hành có thể đem lại cơ hội công việc tốt, giúp thoát ly nghèo đói. Đó cũng là lí do thôi thúc phong trào học tập trong nhà trường, trong làng xã.

Ở Đông Hưng khoảng 10 năm lại nay, các xã và hầu hết các họ đều có quỹ/ hội khuyến học. Phong trào khuyến học ở Nguyên Xá hiện đang phát triển tích cực.

Theo thống kê, đến nay toàn xã có 10 dòng họ lập quỹ khuyến học và hoạt động hết sức hiệu quả, như họ Nguyễn Công, Nguyễn Huy, Nguyễn Như, Nguyễn Đình, Nguyễn Hữu, Nguyễn Tiến, Nguyễn Xuân, Vũ Văn, Vũ Ngọc… Một vài dòng họ có quỹ khuyến học quy mô lớn như họ Nguyễn Huy (trên 20 triệu), Nguyễn Xuân (17 triệu).

Năm 2001, quỹ khuyến học của xã được thành lập, hiện nay quỹ đã lên tới con số 200 triệu, chủ yếu do các con cháu làng Nguyễn làm ăn ở xa đóng góp. Tháng 8 hằng năm được coi là tháng khuyến học của địa phương, vì thời điểm này, các họ và các thôn đều tổ chức trao phần thưởng cho những học sinh có thành tích học tập tốt trong năm, kịp thời động viên các cháu tiếp tục phấn đấu trong năm học mới.

Sự phối hợp hoạt động giữa các dòng họ và chính quyền cũng khá tốt. Xã trao thưởng cho các đối tượng là học sinh nghèo, học sinh có thành tích đặc biệt (như đạt giải học sinh giỏi quốc gia…). Còn thôn và dòng họ trao thưởng cho học sinh tiên tiến, học sinh giỏi, và cả các cháu mẫu giáo chăm ngoan.

Thông thường thôn tổ chức tuyên dương khen thưởng các cháu học sinh tại nhà văn hóa, còn các dòng họ trao phần thưởng tại từ đường của dòng họ với hình thức tổ chức rất trang trọng, có tuyên bố lí do, dâng hương lễ tổ tiên và khen thưởng. Đây là hoạt động rất có ý nghĩa, không chỉ khen thưởng, động viên kịp thời các cháu học sinh mà còn giáo dục sâu sắc lòng tri ân đối với tiên tổ và niềm tự hào về truyền thống gia đình, dòng họ. Với hoạt động này, họ mạc trở thành mái nhà chung, chăm lo cho các cá nhân, đặc biệt là thế hệ con cháu. Và theo người dân nơi đây, một dòng họ được coi là mạnh khi dòng họ đó có nhiều người đỗ đạt. Gia đình nào có người thành danh bằng con đường học hành đều được xóm làng coi trọng, vì nể.

Việc tổ chức tuyên dương tại từ đường dòng họ không chỉ cho thấy sự quan tâm đối với việc giáo dục văn hóa cho các cháu mà còn có ý nghĩa tích cực trong giáo dục bình đẳng giới. Sở dĩ như vậy là vì trước kia, xuất phát từ thái độ trọng nam khinh nữ, con gái, phụ nữ không được đến từ đường – nơi được quan niệm là thiêng liêng nhất của dòng họ. Nhưng với hoạt động của quỹ khuyến học, học sinh nữ có thành tích học tập tốt được chính trưởng họ trang trọng mời vào từ đường.

Hình thức góp quỹ khuyến học cho dòng họ cũng khá đa dạng. Thông thường vào dịp lễ xuân đầu năm, khi con cháu xa gần họp mặt tại từ đường, trưởng họ sẽ kêu gọi các cá nhân, gia đình đóng góp cho quỹ khuyến học. Bên cạnh đó, mỗi họ đều có cách làm riêng nhằm duy trì quỹ khuyến học, chẳng hạn dòng họ Nguyễn Như yêu cầu mỗi gia đình tiết kiệm 1000 đ/1 tháng. Dịp đầu năm, khi thu tiền tế xuân sẽ kết hợp thu luôn tiền khuyến học của năm (12 ngàn đồng). Còn họ Nguyễn Công, mỗi hộ đóng góp 20 ngàn đồng trở lên/1 năm cho quỹ khuyến học.

Tại thôn Hồng Phong - xã Nguyên Xá, vào tối 29 tết hằng năm, Ban công tác mặt trận cấp ủy chính quyền mời toàn bộ con em địa phương đi làm ăn xa về ăn tết đến nhà văn hóa thôn. Tại đây, ban công tác mặt trận kêu gọi các cá nhân ủng hộ khuyến học, khuyến tài và nhận đỡ đầu cho các con em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn.

Đây là những cách làm hết sức hiệu quả, không chỉ khuyến khích tinh thần học tập của con em mà còn góp phần nâng cao nhận thức của người dân đối với giáo dục.

Học hành là một trong những câu chuyện được nói đến nhiều nhất trong các thôn xóm Nguyên Xá. Các bậc phụ huynh đều quan tâm đến việc học hành thi cử của con cái. Nhiều gia đình cho rằng, sự thành công của con cái là món quà quan trọng nhất, có giá trị lớn hơn cả tiền bạc. Đó là động lực rất lớn tác động đến phong trào khuyến học của địa phương.

Bên cạnh gia đình, dòng họ, đảng ủy, chính quyền địa phương cũng hết sức quan tâm đến phong trào học tập. Theo số liệu thống kê của phòng giáo dục, hiện nay trên địa bàn xã Nguyên Xá hầu như không có học sinh bỏ học. Hội khuyến học xã sẽ liên hệ, hợp tác với nhà trường, để giúp đỡ các học sinh nghèo (tặng đồng phục, sách vở). Vì vậy trong nhiều năm liền, rất nhiều học sinh nghèo đã vượt qua khó khăn để hoàn thành công việc học tập với sự hỗ trợ tích cực của các quỹ khuyến học.

Ngoài ra, hằng năm Đoàn thanh niên thôn, xã đều tổ chức các hoạt động ngoại khóa nhằm thu hút thanh thiếu niên tham gia các phong trào văn hóa tích cực, lành mạnh, hạn chế tệ nạn xã hội.

Nhìn chung, quá trình xã hội hóa giáo dục diễn ra khá thuận lợi tại Nguyên Xá với sự tham gia, ủng hộ của mọi thành viên, mọi gia đình, dòng họ. Bên cạnh sự giáo dục của nhà trường, sự quan tâm của chính quyền địa phương, đa số người dân đều cho rằng, truyền thống gia đình, dòng họ luôn đóng vai trò hết sức quan trọng trong giáo dục. Dù xã hội có những biến động, chao đảo thì giáo dục gia đình vẫn là nền tảng quan trọng nhất, góp phần hình thành, định hướng và hoàn thiện nhân cách của mỗi cá nhân.

Tại thôn Văn Hanh - xã Lê Lợi, huyện Kiến Xương, phong trào khuyến tài, khuyến học cũng phát triển rất mạnh mẽ. Trong nhiều năm liền, Văn Hanh được công nhận là thôn văn hóa, một trong các tiêu chí của thôn văn hóa đó là duy trì được truyền thống hiếu học và phát huy rộng rãi đến từng gia đình, dòng họ, khu dân cư.

Năm 2002, Ban chấp hành khuyến học của xã Lê Lợi được thành lập với 11 thành viên. Phong trào khuyến học của địa phương từ đây cũng đi vào nề nếp, tổ chức. Tại các thôn cũng thành lập chi hội khuyến học thôn (3-5 người), do Bí thư chi bộ làm chi hội trưởng. Hoạt động của các chi hội khuyến học rất tích cực và hiệu quả. Trước hết, hội mở lớp tập huấn về phong trào khuyến học, vận động hội viên tham gia và tích cực tuyên truyền các nội dung, tiêu chí khuyến học. Hiện nay xã Lê Lợi đã có 2.040 hội viên khuyến học.

Vào đầu năm, các gia đình, dòng họ sẽ đăng kí các danh hiệu: gia đình hiếu học, dòng họ hiếu học, khu dân cư hiếu học. Đến cuối năm, hội sẽ căn cứ vào tiêu chí đã đề ra để làm báo cáo tổng hợp rồi đưa ra bình xét.

Hình thức đóng góp cho hội khá linh hoạt. Thông thường hội kêu gọi các thành viên tại địa phương cùng những người đi học tập làm ăn xa đóng góp. Quỹ khuyến học của thôn thường thu theo diện tích sào ruộng của từng hộ; còn các dòng họ thường đóng góp theo mức 20-30n/ 1 hộ /1 năm. Thậm chí có gia đình ở thôn Văn Hanh còn lập quỹ khen thưởng riêng.

Hoạt động khen thưởng của hội khuyến học thôn, xã được tổ chức vào hai dịp: ngày hội truyền thống của làng (15/7 Âm lịch) và ngày hội đại đoàn kết toàn dân. Còn các dòng họ tổ chức vào ngày giỗ tổ.

Hằng năm, hội khuyến học thôn Văn Hanh - xã Lê Lợi đều tổng kết về hoạt động khuyến học, thống kê số con em trên địa bàn đỗ cấp 3, vào cao đẳng, đại học và đạt các thành tích xuất sắc trong học tập, rèn luyện.

Lê Lợi là một trong 8 xã của Thái Bình được chọn làm thí điểm xây dựng Nông thôn mới (năm 2011), sự phát triển rộng rãi của hoạt động khuyến học tại đây sẽ góp phần quan trọng vào thắng lợi của chương trình xây dựng Nông thôn mới.

Tại thôn Quang Lang Đông, xã Thụy Hải, huyện Thái Thụy, hội khuyến học được thành lập năm 2010, hoạt động trên cơ sở nguồn kinh phí do nhân dân đóng góp. Hằng năm, gần đến dịp tựu trường, hội tổ chức tuyên dương, khen thưởng các cháu có thành tích học tập tốt căn cứ vào danh sách do nhà trường cung cấp. Ở quy mô cấp xã, vào mỗi đợt tổ chức trao phần thưởng cho các cháu đều mời đại diện các dòng họ đến dự để nghe báo cáo tổng kết. Do vậy, các dòng họ đều nắm được tình hình hoạt động của hội khuyến học và có thêm nhiều kinh nghiệm trong việc hỗ trợ con em học tập, phấn đấu.

Hầu hết các dòng họ ở thôn Quang Lang Đông đều có quỹ khuyến học, tiêu biểu có họ Tạ Bá, Tạ Ngọc, Tạ Duy, Trần Đình, Nguyễn Khuông.

Trong báo cáo tổng kết hằng năm của Ban công tác mặt trận xã đều có phần tổng kết, đánh giá các dòng họ có nhiều cố gắng và đạt nhiều kết quả trong công tác khuyến học.

Với các làng quê ở Thái Bình, hiện nay, dòng họ vẫn giữ tiếng nói vô cùng quan trọng, do vậy, việc khai thác thế mạnh của từng dòng họ để phục vụ cho công cuộc xây dựng Nông thôn mới là hết sức hợp lí, khả thi. Bởi thực tế cho thấy, gia đình, dòng họ đã có tác động rất lớn, mang tính quyết định đối với hoạt động giáo dục. Thậm chí, để phát triển hoạt động khuyến tài, khuyến học, trước hết và bắt buộc phải lấy dòng họ làm cốt lõi, đó là gốc của hiếu nghĩa, là trường học giáo dục lí tưởng, nhân cách, tình cảm đối với con em. Trên cơ sở khuyến khích các gia đình, dòng họ tiếp tục phát huy truyền thống hiếu học, sẽ góp phần thúc đẩy phong trào khuyến học của địa phương, từng bước nâng cao dân trí và cải thiện đời sống văn hóa - xã hội.

Trên đây chỉ là những nét sơ lược phản ánh phần nào học phong đất Thái Bình thời đổi mới, cho thấy truyền thống hiếu học vẫn được tiếp nối và hiện diện ở nhiều hình thức khác nhau.

* *

Ở thời đại nào, người có học vấn đều phải đảm đương những trách nhiệm lớn lao “phò vua giúp nước”, đóng góp cho sự phát triển của xã hội. Ngày nay, ý nghĩa của kẻ sĩ, của trí thức vẫn không tách rời trí tuệ, phát kiến sáng tạo, và nhận thức tổng quát[9]. Hơn thế họ còn phải gìn giữ và phát huy truyền thống hiếu học của cha ông họ, hướng tới xây dựng một xã hội tri thức bản lĩnh và giàu sức sáng tạo. Đó cũng chính là yêu cầu đặt ra đối với các thế hệ trẻ đã và đang làm rạng danh truyền thống văn hóa trên các làng quê Thái Bình.

 



*Tạp chí Văn hóa học, số 5 (9), 2013. Viết chung với Lê Thùy Dương.

[1] Sự phát triển của tư tưởng ở Việt Nam từ thế kỉ XIX đến Cách mạng tháng Tám, tập 1, Nxb Chính trị Quốc gia, 1996, tr.40.

[2] Âm nhạc nhân gian và lời can của kẻ sĩ, http://boxitvn.wordpress.com.

[3]Nguyễn Thanh biên soạn, Hương ước Thái Bình, Nxb.Văn hóa dân tộc, Hà nội, 2000, tr. 79 - 80.

[4] Nguyễn Thanh biên soạn, Hương ước Thái Bình, Sđd, tr. 81-82,85.

[5] Nguyễn Thanh biên soạn, Hương ước Thái Bình, Sđd, tr. 93.

[6] Nguyễn Thanh biên soạn, Hương ước Thái Bình, Sđd, tr.109-110.

[7] Nguyễn Thanh biên soạn, Hương ước Thái Bình, Sđd, tr.127 - 128.

[8] Diệp Đình Hoa, “Làng Nguyễn, trong sách: Tìm hiểu làng Việt, tập 2, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1994, tr. 225.

[9] Võ Hưng Thanh, http:www.danchimviet.info.

Thứ Hai, 31 tháng 8, 2020

Nguyễn Ngọc Thanh (Chủ biên), VĂN HÓA NGƯỜI THỦY Ở TUYÊN QUANG, Nxb. Thời đại, Hà Nội, 2014

                                                                      Chương 6



































 

Chủ Nhật, 30 tháng 8, 2020

TỔ CHỨC BẢN CỦA MỘT SỐ TỘC NGƯỜI Ở MIỀN NÚI PHÍA BẮC VIỆT NAM - Nguyễn Ngọc Thanh, Thông tin Khoa học xã hội, số 4, 2020.


TỔ CHỨC BẢN CỦA MỘT SỐ TỘC NGƯỜI

Ở MIỀN NÚI PHÍA BẮC VIỆT NAM

     1. Mở đầu

Bản được xem là tương đương với làng hay thôn của người Kinh, lúng hay quel của người Mường, buôn/bon/plei của các dân tộc vùng Trường Sơn - Tây Nguyên; phum, sóc của người Khơ-me ở Nam bộ... Bản là nơi duy trì, đảm bảo cuộc sống của người dân, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa tộc người. Tuy nhiên, đến nay, số lượng nghiên cứu về bản các dân tộc thiểu số ở miền núi phía Bắc còn ít ỏi[1]. Có thể nói, mặc dù các nghiên cứu đã chỉ ra được một số đặc điểm của bản như cách đặt tên, không gian xã hội, thiết chế tự quản, các quy ước trong quản lý cộng đồng dưới góc nhìn truyền thống với những miêu thuật dân tộc học cụ thể, chi tiết, nhưng lại không chú ý nhiều đến quá trình biến đổi của làng/bản qua từng giai đoạn lịch sử. Đặc biệt là, vai trò, vị trí của bản trong công cuộc xây dựng nông thôn mới ở vùng miền núi, dân tộc thiểu số hiện nay còn thiếu vắng những công trình chuyên sâu.

2. Đặc điểm, cấu trúc của bản

2.1.Tên gọi và ranh giới

Việc đặt tên bản ở các dân tộc thường theo những đặc điểm tự nhiên của từng vùng như sông, suối, núi, đất, cỏ cây... là hiện tượng phổ biến, ví dụ như: núi Lát có tên bản Lát; suối Sim có tên bản Sim... Ngoài ra, hiện tượng đặt tên bản với tiền tố “nà” (ruộng) xuất hiện nhiều ở người Tày, Thái vùng Tây Bắc, Đông Bắc Việt Nam như: Nà Tăm, Nà Mạ, Nà Ca, Nà Giàn. Ở miền Tây Nghệ An, người Thái thường chữ đầu tên của bản được gọi theo vị trí môi trường tạo lập của nó như sông, suối bến nước, gò đồi… Những bản ở cạnh suối nhỏ thường có chữ huổi ở đầu như Huổi Nọt, ở gần suối lớn hay sông có từ nặm (Nặm Xuồng, Nặm Xan…)[2]. Ở Cao Bằng tên gọi với tiền tố nà (ruộng) có số lượng nhiều nhất: 159 bản/512 bản, chiếm tỷ lệ 31,05%, số bản còn lại có chữ khuổi (suối), lũng (thung lũng)[3]. Người Mường tên bản gọi theo tính chất đất đai nơi cư trú có Đung (rừng rậm), Dool (dãy đồi), Thung nganh (thung lũng), Bậy (lầy thụt); mang tên cây có các bản: Lảo (nứa): ạch (cây tre), Mít (cây mít), Pai (cỏ gianh), Thăm (rau răm), Ki (cây si), Mùn (tên một loại lúa nếp), Chạo (giống lúa chạo). Xuất xứ của những tên bản được người Mường giải thích: ước khi lập bản đây là những nơi rừng rậm, ruộng lầy thụt, nhiều tre, nứa, cỏ gianh[4]. Tên bản mang tên người cũng thấy xuất hiện ở nhiều vùng người Hmông như Lý Lao Chải, Giàng Chu Phìn, Mã Cha, Giàng Cha, Thào Dính Chải, Lầu Chá Tổng, Tà Giàng Phình, Vàng Lứ[5]. Đây là hình thức ghi nhớ công lao những người có công khai phá lập bản đầu tiên.

Dù gọi theo hình thức nào thì tên bản đều chứa đựng trong đó những ý nghĩa nhất định. Đối với bên ngoài, đó là tín hiệu hàng đầu để phân biệt giữa người bản này với người bản kia. Còn trong nội bộ cộng đồng thì tên bản như một chất xúc tác gắn kết mọi thành viên lại cùng chung sức gánh vác các công việc chung.

Bản có ranh giới riêng, được ghi chép rõ ràng trong văn tự hoặc truyền lại miệng qua nhiều thế hệ. Ranh giới thường dựa vào con suối, hòn đá, gốc cây to hoặc vách đá... Khu vực đất đai thiên nhiên chung của bản được xác lập một cách bền vững. Ngoài đất ở là đất sản xuất, núi rừng, được các thành viên của bản biết rõ và cũng được các thành viên của bản khác tôn trọng. Ruộng đất của bản nào thuộc sở hữu của bản đó. Người dân của bản này không thể sản xuất trên đất đai cũng như thu hái lâm thổ sản trên rừng của bản khác. Người di cư đi nơi khác không còn có quyền lợi về đất đai ở bản cũ. Xưa kia hiếm thấy hiện tượng xâm chiếm đất đai giữa các bản kề nhau[6].

Những bản nằm sát biên giới thường được bố trí theo kiểu phòng thủ với hệ thống tường đá, rào tre, cửa, lô cốt... gọi là “khuyên” đá xung quanh bản, chỉ dành một cổng ra vào bản, mỗi bản xưa kia thường có một đội dân binh do trưởng bản cầm đầu, nhằm chống lại nạn trộm cướp[7]

2.2. Thành phần dân cư, quy mô dân số

Trước đây, các tộc người ở miền núi phía Bắc dù ở vùng thung lũng chân núi hay vùng rẻo giữa, rẻo cao hợp thành bản thường là những gia đình thuộc nhiều dòng họ cùng cư trú, bản ít có từ 2 đến 3 dòng họ, bản đông tới 5 đến 7 dòng họ, thậm chí có bản tới 12 dòng họ. Trong phạm vi bản, các gia đình có quan hệ họ hàng thường cư trú gần nhau. Dù lớn hay nhỏ ở bản nào cũng có một hoặc hai dòng họ chiếm ưu thế, có uy tín và ảnh hưởng đến các quan hệ xã hội trong bản. Những dòng họ lớn trong bản thường là những họ có công khai phá đất đai, thành lập bản và chiếm hữu những mảnh ruộng tốt nhất để canh tác.[8] Ở một số vùng người Hmông như Kỳ Sơn (Nghệ An), Thuận Châu (Sơn La), Đồng Văn, Mèo Vạc (Hà Giang) một số bản chỉ có một dòng họ (cùng họ, cùng ma) cư trú. Đây là điểm khác biệt so với các tộc người khác.

Hiện nay, cư trú đan xen, khác dân tộc trong cùng một bản đã trở thành phổ biến, nhất là vùng thung lũng chân núi nơi cư trú của các tộc người Thái, Mường, Tày, Nùng. Theo nghiên cứu của Đàm Thị Tấm, phần lớn trong các bản của người Nùng đều có từ 3 đến 8 dân tộc cùng chung sống[9]. Hiện tượng từ 2 đến 3 dân tộc cư trú trong một bản cũng thấy ở một số tộc người khác vùng rẻo cao và rẻo giữa…

Tùy theo điều kiện đất đai canh tác, cũng như hoàn cảnh lịch sử, xã hội từng giai đoạn, mà bản có quy mô dân số lớn nhỏ khác nhau. Bản của người Hmông, Hà Nhì, Lô Lô ở vùng cao thường có quy mô nhỏ từ 30 đến 40 nóc nhà, bản của người Thái, Tày, Mường, Nùng… ở vùng thấp có quy mô từ 70 đến 80 nóc nhà, thậm chí hàng trăm nóc nhà. Mỗi bản có nhiều gia đình nhỏ sinh sống với một hoặc hai thế hệ, hay gia đình lớn vài ba thế hệ thuộc các dòng họ khác nhau cùng sinh sống.

3. Các thiết chế và quan hệ cộng đồng

3.1. Hình thức quản lý bản

Trong xã hội truyền thống, bản là tổ chức xã hội tự quản thông qua một bộ máy điều hành do dân lựa chọn nhưng cũng có khi là thế tập. Chức năng của tổ chức tự quản này là điều hành công việc chung của bản, giữ gìn lễ nghi phong tục. Ở vùng người Thái xưa kia, bản được phân cấp rõ ràng: có bản của những gia đình chức dịch và quý tộc, bản của dân tự do (páy đinh), dân nửa tự do (páy cư) và bản của những tộc người khác tộc, lệ thuộc (cuông nhốc)[10]. Người đứng đầu cao nhất và phụ trách chung mọi công việc của bản gọi là quan bản (nếu là người thuộc các họ bình dân) hoặc tạo bản (nếu là người thuộc các họ quý tộc tức dòng dõi chúa đất địa phương - tạo mường)[11]. Về danh nghĩa, chức vị này do dân bầu ra trên cơ sở lựa chọn những người đàn ông có uy tín và gia đình khá giả, sau đó báo cáo tạo bản xem xét và quyết định. Tuy không được cha truyền con nối, nhưng trên thực tế, chức vụ này do người trong dòng họ tạo bản nắm giữ. Họ có trách nhiệm điều hành công việc của bản theo tập quán và tinh thần cộng đồng, đồng thời đôn đốc dân bản thực hiện nghĩa vụ đối với mường. Riêng bản chiềng không có tạo bản hay quan bản mà do tạo bản trực tiếp cai quản. Dưới quan bản có một chức giúp việc gọi là chá bản. Theo nghĩa tiếng Thái thì “chá” có nghĩa là “nói”. Có thể hiểu chá bản là người phổ biến, tuyên truyền mọi tin tức, công việc của bản, mường[12].

Các bản của người Tày, Nùng từng trực thuộc vào các đơn vị hành chính cấp xã, tổng, châu, tỉnh trực tiếp do nhà nước phong kiến hay thực dân nửa phong kiến chi phối. Đứng đầu các cấp hành chính này là tầng lớp thổ ty (quằng) người địa phương hay các lưu quan được cử từ triều đình. Ở mỗi bản đứng đầu là châu bàn, tầu bàn, những người này gần như được dân trong bản suy tôn, phần nhiều là người đại diện dòng họ gốc, dòng họ lớn nhất của bản, cũng có thể đó là dòng họ thổ ty[13]. Trong xã hội truyền thống các dân tộc thiểu số phía Bắc nói chung, trưởng bản trong bộ máy tự quản là do dân cử theo những tiêu chuẩn của tập quán pháp quy định. Họ là những người có uy tín, được quần chúng suy tôn bởi những chuẩn mực như: biết tổ chức làm kinh tế gia đình; hiểu biết quy ước luật tục, phong tục, tập quán và lịch sử của bản; có khả năng ứng xử và giao tiếp; luôn chăm lo, bảo vệ cuộc sống bình an của dân bản. Những thành viên trong , người nào có khả năng vượt trội chuẩn mực đó, sẽ được quần chúng suy tôn. Do vậy, trưởng bản trong xã hội truyền thống thường được quần chúng kính nể, tin yêu và nghe theo. Trong công việc, họ thường căn cứ vào những quy ước, luật tục, lễ nghi của bản để giải quyết, hoà giải những vi phạm không thuộc phạm vi của dòng họ; chăm lo đến lợi ích chung của cộng đồng[14].

Thời kỳ hợp tác hóa nông nghiệp, vai trò của trưởng bản bị thay thế bởi chủ nhiệm hợp tác xã, và tổ chức bản - trên danh nghĩa - chuyển thành đội sản xuất, hay bao gồm vài ba đội sản xuất. Chính lúc này, hợp tác xã hay đội sản xuất chi phối mọi hoạt động chủ yếu của cộng đồng dân cư… Vai trò truyền thống của bản mờ nhạt đi, vai trò điều tiết, quản lý kinh tế và xã hội của hợp tác xã xuất hiện và tăng lên[15].

Từ sau Đổi mới (1986), chức danh trưởng bản, trưởng thôn được khôi phục thay thế vai trò của chủ nhiệm hợp tác xã, đội trưởng sản xuất, chức năng tự quản của bản lại được phát huy phần nào. Trưởng bản hoạt động dưới sự lãnh đạo trực tiếp của cấp xã, huyện, tỉnh. Những bản đã được gọi là thôn thì trưởng bản cũng có thể gọi là trưởng thôn.

Nhiệm vụ của người trưởng bản hiện nay là quán xuyến toàn bộ các công việc có liên quan đến lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hóa, an ninh trật tự. Tiếp nhận chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước cũng như Nghị quyết của Đảng ủy, chính quyền xã, đồng thời phổ biến đầy đủ nội dung của các văn bản đó đến người dân, kịp thời phản ánh tâm tư, nguyện vọng của dân bản lên cấp trên.

Trưởng bản chịu trách nhiệm hướng dẫn dân bản tiến hành sản xuất, điều phối đất đai, nhắc nhở mọi người không xâm phạm đến khu vực canh tác của nhau. Việc bảo vệ nguồn nước, bảo vệ rừng cấm trưởng bản chịu trách nhiệm cao nhất và có quyền xử phạt trực tiếp những ai chặt phá bừa bãi rừng đầu nguồn, làm ô nhiễm nguồn nước. Trưởng bản còn là người hiểu biết rõ về nguồn gốc của từng dòng họ về các mối quan hệ hôn nhân, nắm chắc các phong tục tập quán, chịu trách nhiệm chính trong các vụ xử phạt người vi phạm quy ước của cộng đồng[16].

3.2. Quy ước của bản

Quy ước của mỗi bản là những điều khoản được truyền miệng từ đời này qua đời khác, mặc dù không có văn bản nhưng hầu hết người dân đều nhớ và được mọi người trong cộng đồng tự giác thực hiện. Nội dung của các quy ước gắn bó thiết thực với các lợi ích của người dân trong bản và được mọi người bảo vệ do điều hoà được những lợi ích (rừng đất đai, nguồn nước, xã hội...). Quy ước thường được già bản, trưởng bản nhắc nhở vào dịp đầu năm. Trong xã hội truyền thống, những ai vi phạm quy ước đều phải chịu hình phạt có thể bằng tiền, hiện vật, đánh đập bằng roi, gậy, thậm trí đuổi ra khỏi bản.

Hiện nay, bên cạnh quy ước có tính truyền thống, thì nhà nước đã và đang áp dụng hệ thống pháp luật ngày càng sâu rộng trong mọi lĩnh vực của cuộc sống. Hai hệ thống quản lý xã hội này tồn tại bổ trợ cho nhau và đang phát huy hiệu quả trong cộng đồng. Thực tế này cho thấy quy ước ở các dân tộc thiểu số có một số điểm tiến bộ cần tiếp tục được phát huy, khai thác và vận dụng một cách hiệu quả hơn nữa trong đời sống xã hội tộc người nói chung và trong các lĩnh vực cụ thể nói riêng. Song, quy ước hiện nay không thể đơn giản hóa thành một công thức chung cho mọi nơi, mà phải xuất phát từ thực tiễn cụ thể của từng địa phương với sự tham gia của chính chủ thể cộng đồng.

Có thể nói, qui ước như là một cương lĩnh tinh thần đối với mọi tổ chức xã hội khác nhau trong bản và có tác động đến mọi thành viên của bản, dù người đó là cán bộ hay dân thường, là người của dòng họ này hay dòng họ kia, không ai không dám chấp hành. Do vậy, quy ước trở thành sợi dây vô hình nhưng bền chặt cố kết mọi thành viên trong cộng đồng.[17]

3.3. Quan hệ cộng đồng bản

Tinh thần cộng đồng được thể hiện rõ nét trong sản xuất và đời sống hằng ngày, là yếu tố quan trọng để củng cố sự đoàn kết và phát triển của bản,

Trong trồng trọt, để kịp thời vụ có hình thức làm đổi công, người Cơ Lao gọi là: phàng cống, người Dao Đỏ gọi là pui công, người Tày gọi là vàn nà,Theo đó, nhiều gia đình có thể đến làm giúp cho một nhà nào đó trong bản, và gia chủ chỉ cần chuẩn bị một bữa cơm thết đãi sau khi hoàn thành công việc. Có thể thấy, đây là truyền thống tốt đẹp, có ý nghĩa tích cực, là một biện pháp giải quyết sức lao động nhằm giúp mỗi gia đình có đủ nhân lực để hoàn thành công việc.

Trong đời sống hàng ngày, mỗi sự kiện vui, buồn của mỗi gia đình trong bản cũng là nỗi vui, buồn chung của cả cộng đồng bản. Một đứa trẻ ra đời, khi hết thời gian ở cữ, theo tập quán, các gia đình trong bản đến hỏi thăm và chia vui. Việc lấy vợ, lấy chồng cũng là sự kiện được dân quan tâm chú ý đến nhiều. Một gia đình có con xây dựng gia đình, dân bản tự đến mà không cần phải mời mọc. Đám tang cũng vậy. Vào những ngày gia đình tổ chức tang lễ, dân bản tạm dừng việc lao động sản xuất để cùng chia sẻ sự mất mát với tang gia. Ở các bản người Tày, Nùng còn có phường đám ma gọi là Phe có nơi gọi là Hàng phường, đây là một tổ chức tự nguyện tập hợp một số thành viên trong bản hoặc ngoài bản để lo việc tang lễ cho các gia đình có người qua đời. Phe có người trùm trưởng điều khiển mọi hoạt động từ đào huyệt, phát đường, sửa nhà, cơm nước... gia đình của người quá cố dù có thiếu tiền, gạo trong những ngày tang lễ đã có Phe lo cho tất cả, khi nào gia đình tang chủ có điều kiện về kinh tế sẽ trả lại cho Phe[18]. Để quản lý và thúc đẩy hoạt động, Phe xây dựng các nội quy và nếu ai vi phạm, mức nhẹ bị phạt tiền, mức nặng bị đuổi khỏi Phe. Có những quy định tưởng khó thực hiện với người nông dân vốn quen tác phong dềnh dàng, như đến nhận nhiệm vụ muộn 5 phút bị phạt 50.000 đồng, muộn 30 phút - phạt 100.000 đồng, song hầu như hiếm người vi phạm[19]. Theo tập quán của các tộc người Thái, Mường, Tày Hmông, Dao, Hà Nhì… Trong bản, gia đình nào làm nhà mới, mọi nhà đều cử người đến giúp…gia đình nào gặp khó khăn có thể vay gạo và tiền của các gia đình khác, không phải tính lãi. Người trong cùng họ thiếu đói đến cậy nhờ được cho không.

Dân cư trong bản có sự gắn bó với nhau trên cơ sở cùng tôn thờ những biểu tượng tâm linh và sự che chở của thần bản mệnh chung. Bản của người Tày, Nùng có miếu thổ thần, tọa lạc ở trong bản, hoặc trong khu rừng cấm, rừng thiêng, và thường do những gia đình ở lâu nhất trong bản chịu trách nhiệm trông nom, thờ cúng. Vị thổ thần đó ở cả người Tày và người Nùng đều gọi là Thó tỉ (thổ địa), có nơi gọi là Cốc bản (gốc bản). Đó có thể là một người cụ thể, sau khi chết linh ứng và trở thành thổ thần, cũng có thể đó là nhân vật huyền thoại. Cánh rừng có miếu thổ thần thường được coi là rừng thiêng, nơi trú ngụ của nhiều thần linh, ma quỷ không ai dám đến chặt phá cậy, săn bắn thú, do vậy thường có những cây cổ thụ, nhất là cây đa. Bên cạnh đó, tuy không thật phổ biến như ở làng của người Kinh, nhưng ở các bản của người Tày, Nùng cũng có ngôi đình thờ Thành hoàng, thờ thần sông, thần núi, thần nông và có khi thờ cả Phật. So với miếu thì đình ít phổ biến hơn, tức là nếu bản nào cũng có miếu thì đình không nhất thiết bản nào cũng có. Ngoài việc cúng lễ hàng năm theo lễ tết, đình cùng với miếu là nơi diễn ra các lễ hội hàng năm với sinh hoạt văn hoá cộng đồng. Một số bản còn có chùa thờ Phật Bà Quan Âm - một vị thần mà trong tâm thức dân gian là rất thiêng, được người Tày, Nùng tin thờ[20]. Mỗi bản người Thái xưa thường có một thầy cúng đảm nhận phần cúng chung cho cả bản. Khi bản gặp khó khăn, thầy cúng của bản đóng vai trò chủ tế, cúng cầu mong cho các gia đình trong bản vượt qua được khó khăn, gặp điều tốt lành trong cuộc sống. Hàng năm, vào dịp Tết, thầy cúng thường đến cúng cầu sức khỏe cho các gia đình trong bản, đồng thời cúng để đuổi ma gây bệnh cho những người ốm trong bản. Vào dịp tết Nguyên đán, người Thái có tập quán làm lễ gọi hồn (hiếc khoăn) cho các thành viên trong gia đình. Ðịa điểm để gọi hồn được tiến hành tại bến nước chung của bản. Sáng mồng Một, các bà vợ thường dậy thật sớm, ra bến nước múc lấy một ống nước suối gọi là nước năm mới (nặm pi mớ), đem về cho con cháu trong gia đình rửa mặt[21]. Các tộc người Hà Nhì, Cống, Si La đều tổ chức nghi lễ cúng thần bản, một năm hai lần ở một khu rừng cấm, cầu mong một năm yên lành, dân bản khỏe mạnh, mùa màng tươi tốt. Ở người Dao còn có lễ cấp sắc cho nam giới, mục đích chính là công nhận nam thanh niên đến tuổi trưởng thành, thừa nhận họ là thành viên chính thức của tộc người. Đồng bào cho rằng, chỉ những người đã qua cấp sắc mới được coi là người lớn, người đàn ông nào chưa được cấp sắc bị coi như trẻ con[22]. Nghi lễ này, không chỉ đóng khung trong phạm vi gia đình, mà còn là sinh hoạt mang tính cộng đồng. Đối với các lễ hội hàng năm trong bản, ngoài nghi lễ cúng tế, các sinh hoạt văn hóa mang tính thi ca, vui chơi giải trí đã thu hút đông đảo người dân trong bản, giữa các bản, có khi cả một vùng rộng lớn. Hội Lồng tồng (xuống đồng) của người Tày - Nùng vùng Đông Bắc và Xên bản (cầu an) của người Thái vùng Tây Bắc là những lễ hội lớn, chiếm vị trí quan trọng trong đời sống không chỉ của họ mà còn của nhiều tộc người xung quanh. Tùy từng nơi mà những lễ hội này có sự khác biệt, song cơ bản đều diễn ra vào mùa xuân và sắp xếp giữa các bản sao cho dân bản này đến góp vui được với dân bản kia. Hội lễ với những hình thức vui chơi giải trí tạo nên không khí hồ hởi, cảm hứng trước các sinh hoạt văn hóa cổ truyền, là nơi gặp gỡ giao lưu tình cảm thông qua ca hát đối đáp, là nơi để thế hệ trẻ nhập thân vào hoạt động văn hóa chung, tiếp nhận các giá trị văn hóa tiêu biểu từ thế hệ trước truyền lại...

4. Kết luận

Bản là đơn vị cấp cơ sở, là chân rết của chính quyền cấp xã. Bản cũng là môi trường đầu tiên phát huy quyền dân chủ, thúc đẩy sự tham gia của cá nhân, hộ gia đình vào công cuộc xây dựng nông thôn mới. Vai trò này ngày càng được khẳng định trong bối cảnh thực hiện quy chế dân chủ ở cộng đồng. Điểm nổi bật của mở rộng dân chủ đã tạo ra không khí hồ hởi, phấn khởi, tin tưởng, từ đó quy tụ tập hợp đông đảo các tầng lớp nhân dân cùng tham gia các phong trào, cuộc vận động, chăm lo phát triển kinh tế, xây dựng đời sống văn hoá mới, đổi mới bản/làng. Thành tựu đạt được cũng chứng tỏ sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, năng động của các cấp chính quyền, sự tham gia nhiệt tình, tích cực của tổ chức Mặt trận, các đoàn thể, tổ chức xã hội. Chính sự tồn tại, ổn định và phát triển của mỗi cộng đồng bản/làng trong đó vai trò các già làng: trưởng bản là điều kiện không thể thiếu cho sự ổn định chung của quốc gia, của dân tộc.

Bản của các tộc người ở miền núi phía Bắc đều có tên gọi riêng đặt theo điều kiện tự nhiên hoặc gọi theo sự kiện đặc biệt nào đó. Bản có không gian sinh tồn riêng bao gồm rừng, núi, sông, suối, đất đai để canh tác với nơi cư trú của các nóc nhà. Mỗi bản đều ranh giới để phân biệt dù chỉ mang tính ước lệ nhưng luôn được mọi người tôn trọng.

Bản tuy không phải là đơn vị hành chính cấp cơ sở nhưng có vai trò rất lớn. Mọi chủ trương, chính sách, đường lối của Đảng, Nhà nước đều thông qua cấp bản để đến được với người dân.

Trưởng bản là người có vai trò quan trọng trong đời sống tộc người, đây là nhân vật do dân bầu, phải có uy tín và gương mẫu trong mọi lĩnh vực của đời sống, là“cầu nối” giữa dân bản với chính quyền làm cho các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước đi vào cuộc sống của cộng đồng.

Bản là một cộng đồng về văn hoá thể hiện trong ý thức chung về cội nguồn thông qua các nghi lễ, tín ngưỡng… ở sự đồng cảm về các sinh hoạt văn hoá chung như lễ hội truyền thống, mang đậm bản sắc tộc người, góp phần tạo nên niềm cộng mệnh, cộng cảm của các thành viên trong bản q 

[1] Điểm lại có một số bài viết và công trình sau: Làng bản của người Tày (1988); Làng bản của các dân tộc thiểu số miền núi miền Bắc Việt Nam (1993); Làng Dao ở Ba Bể Cao Bằng (1993); Thôn làng người Dao ở nước ta hiện nay: những biến đổi và vấn đề đặt ra (2016); Làng bản cổ truyền của dân tộc Tày ở huyện Võ Nhai Thái Nguyên (2010), Làng bản của người Tày ở huyện Trùng Khánh tỉnh Cao Bằng (2010); Làng của người Hmông ở Việt Nam (2000); Thiết chế bản của người Dao (2014), Làng người Tày trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập (2015),….

[2]Vi Văn An (2019), Người Thái ở miền Tây Nghệ An, Nxb. Thế giới, Hà Nội, 2019, tr.178.
[3]Trần Văn Quyền, Làng bản cổ truyền của dân tộc Tày ở huyện Võ Nhai Thái Nguyên, Luận văn Thạc sĩ, Đại học Thái Nguyên, 2010, tr. 33.
[4] Nguyễn Ngọc Thanh, “Bổ sung thêm tư liệu về thiết chế xã hội cổ truyền của người Mường ở mường Bi, huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình”, Tạp chí Dân tộc học, số 5 (125), 2003, tr.24.
[5] Nguyễn Ngọc Thanh, “Làng của người Hmông ở Việt Nam”, Tạp chí Dân tộc học, số 1 (105), 2000, tr.30.
 [6] Nguyễn Ngọc Thanh, “Làng của người Hmông ở Việt Nam”, Tạp chí Dân tộc học, số 1 (105), 2000, tr.37.
[7] Vi Văn An, “Làng phòng thủ, nhà pháo đài ở vùng biên giới Việt - Trung”, trong Tuyển tập Hội nghị khoa học Xứ Lạng - Lạng Sơn”, Sở Văn hóa - Thông tin Lạng Sơn,1988, tr. 130 -135.
[8] Dẫn theo Nguyễn Văn Huy, “Cộng đồng bản”, trong sách: Các dân tộc Tày Nùng ở Việt Nam, Viện Dân tộc học, Hà Nội, 1992, tr. 156-157.
[9] Đàm Thị Tấm, Tổ chức bản của người Nùng Phàn Slình ở huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên, Luận án tiến sĩ, Học viện Khoa học xã hội, 2020, tr. 65.
[10] Vi Văn An (2019), Người Thái ở miền Tây Nghệ An, Nxb. Thế giới, Hà Nội, 2019, tr. 171.
[11]Đặng Nghiêm Vạn, Văn hóa Việt Nam đa tộc người, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 2007, tr.561 
[12] Cầm Trọng, Những hiểu biết về người Thái ở Việt Nam, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2005, tr.174.
 [13] Hoàng Nam, Dân tộc Nùng ở Việt Nam, Nxb. Văn hóa dân tộc, Hà Nội, 1992, tr.187.
[14] Nguyễn Ngọc Hà (Chủ nhiệm), Phát huy vai trò già làng, trưởng bản người dân tộc thiểu số trong thực hiện qui chế dân chủ tại các tỉnh miền núi phía Bắc nưc ta hiện nay, Đề tài khoa học cấp Bộ, 2006, tr. 20.                   [15] Nguyễn Văn Huy, Sđd tr.156.
[16] Nguyễn Ngọc Thanh, “Làng của người Hmông ở huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An”, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 3 (316), 2001, tr.28. 
[17] Nguyễn Ngọc Thanh, “Những quy ước của người Hmông”, Tạp chí Dân tộc học, số 6 (120), 2002, tr.3 - 9.
[18] Đàm thị Tấm, Tlđd, tr.92.
[19] Vương Xuân Tình và cộng sự, “Làng người Tày trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập”, Tạp chí Dân tộc học, số 4&5, 2015, tr.20.
[20]Hoàng Bé - Hoàng Minh Lợi, Làng bản của người Tày, Tạp chí Dân tộc học, số 4 (60), 1988, tr. 94-103.
[21] Vi Văn An, Vi Văn An (2011), Tri thức dân gian của người Thái trong việc sử dụng và bảo vệ tài nguyên nước,http://www.vanhoanghean.com.vn/component/k2/34-cuoc-song-quanh-ta/2370-tri-thuc-dan-gian-cua-nguoi-thai-trong-viec-su-dung-va-bao-ve-tai-nguyen-nuoc, truy cập ngày 25/3/2020.
[22] Bế Viết Đẳng và cộng sự , Người Dao ở Việt Nam, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội,1971, tr.124.